Việt kiều về nước làm ăn – Bài bị xếp xó

Loạt bài này viết lâu rồi, cũng mất khá nhiều thời gian. Một sếp đọc rồi thì không hài lòng, 2 sếp còn  lại thì “nghe nói là còn thiếu dữ kiện” chứ cũng không đọc.
Tôi thì mỗi lúc buồn buồn lại lôi nó ra đọc lại cho vui và ngẫm nghĩ xem tại sao nó lại là không được. Có điều đọc hoài, suy đi nghĩ lại cũng chưa biết là tại sao.
Thôi thì chép về đây để dành làm kỷ niệm và nghiền ngẫm tiếp

Kỳ 1: Việt Nam-Mảnh đất của cơ hội

WESTMINSTER (NV).- Là một người khá nổi tiếng trong lĩnh vực sinh hoạt văn hóa văn nghệ ở Quận Cam, Q. nhận được lời mời về Việt Nam tham gia làm việc cho một chương trình đúng sở trường và sở thích của cô trong thời gian 2 tháng. Đương nhiên, thu nhập theo lời mời mà cô nhận được trong thời gian đó sẽ vượt xa hơn nhiều mức mà cô đang có hiện tại.

Tuy nhiên, cơ hội đó vừa làm Q. cảm thấy thích thú, vừa đưa cô vào một sự cân nhắc, lựa chọn “không dễ dàng” trước khi quyết định, như lời cô nói.

Không chỉ riêng Q., mà còn rất nhiều người Việt ở hải ngoại khác, đặc biệt là những người trẻ, ít nhiều đều đã và đang có những băn khoăn trước quyết định “nên hay không” quay về Việt Nam tìm kiếm những cơ hội làm việc, làm ăn.

Có người đã về, đã làm và đã quay trở lại Mỹ vì thất bại.
Có người vẫn đang tiếp tục phát triển hay tìm kiếm cơ hội khác cho công việc của mình tại Việt Nam.
Có người đang đắn đo, cân nhắc nên hay không cho việc trở về.
Tất cả vẽ nên một diện mạo mới mẻ cho thế hệ người Việt hải ngoại hiện nay.

Những lý do để chọn Việt Nam

“Lý do vì sao chọn Việt Nam làm nơi để đầu tư, kinh doanh hay phát triển sự nghiệp” là câu hỏi được đặt ra cho họ, những Việt kiều đã, đang và sẽ “quay về” Việt Nam tìm cơ hội làm ăn.

Họ, những người mà tôi có dịp tìm hiểu cho bài viết của mình, đều có một điểm chung: rời Việt Nam ở tuổi 16, 17, lứa tuổi có nhiều suy tư, trăn trở, có nhiều biến đổi trong nhận thức và cũng dễ dàng chịu nhiều tác động của những dư luận bên ngoài.

Anh Andy, một kiến trúc sư, đang làm việc cho một công ty xây dựng ở Bình Dương, cho biết lý do quay về, “Tôi về Việt Nam chơi vào cuối năm 2007 và thấy Việt Nam thay đổi nhiều, khắp nơi đều có những dự án xây dựng những tòa nhà cao ốc. Trong khi đó, ở Mỹ, ngành kiến trúc dậm chân một chỗ, nên tôi nghĩ tại sao không thay đổi môi trường?”

Vương vấn câu hỏi “tại sao không thay đổi môi trường,” Andy quay trở về Việt Nam tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động một lần nữa, và “bắt đầu lên mạng tìm công việc, nộp đơn ở khắp nơi và đi phỏng vấn.”

Sau Tết 2008, Andy tìm được công việc thích hợp qua trung gian “một công ty săn tìm người.”
Trong khi đó, anh Trình, một luật sư, cũng là một “business man,” về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2000.

Sau 20 năm xa quê hương, cảm nhận của anh Trình khi trở về là “tôi nhận thấy Việt Nam cần có những sự thay đổi, phát triển mà chính phủ không quan tâm, lo lắng, họ để chuyện đó cho sự phát triển tự nhiên, cho giới kinh doanh.”

Với cảm nhận đó, anh Trình suy nghĩ, “thay vì mình đầu tư bên đây thì mình đầu tư bên kia. Nếu thành công nhỏ thì mình cũng tạo được môi trường làm việc nhỏ cho một số người. Nếu thành công lớn thì mình tạo thêm được nhiều công ăn việc làm cho người dân bên đó.”

“Tôi thấy đó là điều nên làm, thế là tôi mạo hiểm chạy về.”

Không chỉ “mạo hiểm chạy về,” anh Trình còn “mạo hiểm” mở hẳn cả một nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng ở Việt Nam.

Anh Quân, một Việt kiều Canada, về Việt Nam năm 2007, lại cho rằng, “Việt Nam là xứ sở của mình, ngôn ngữ của mình nên tôi thấy thoải mái hơn khi chọn Sài Gòn làm nơi kinh doanh.”

Chính cảm giác “thoải mái” mà sau khi mở tiệm sushi ở Canada, “thấy mô hình kinh doanh sushi ở Canada giống như những ‘convenience shop’ làm theo kiểu bình dân, không sang trọng quá như ở Nhật” anh Quân thấy phù hợp với cung cách văn hóa của người Việt Nam nên quay về Việt Nam “kinh doanh thử.”

Nếu như anh Trình, anh Andy hay anh Quân xác định lý do đầu tiên là trở về Việt Nam để “làm ăn” thì lý do quan trọng để anh Đức, một Việt kiều cũng làm ăn khá thành công ở Hà Nội, quay về là vì anh luôn mang cảm giác “thiếu quê hương.”

Anh tâm sự, “Tôi có ý định về sống tại Việt Nam từ gần 20 năm rồi, vì mặc dù đã sống ở nhiều nơi trên thế giới, tôi vẫn thấy thiếu vắng. Tôi quyết định dọn về Việt Nam vì ở Mỹ tôi không đủ thời gian và khả năng lo cho mẹ tôi khi bà bị bịnh nặng.”

Với một đất nước đang phát triển, cơ hội mở ra là vô cùng, nếu biết nắm bắt

Điều khiến Q. háo hức trước lời mời trở về Việt Nam làm việc cho một dự án văn hóa văn nghệ chính là cô sẽ có cơ hội có một không gian rộng lớn để mà thể nghiệm những điều cô ước mơ.

Những sân khấu lớn. Lượng khán giả đông. Và quan trọng hơn hết, “cơ hội nổi tiếng” sẽ không còn là điều xa vời với người làm nghệ thuật như cô. Điều này, nếu ở Mỹ, cơ hội cho cô là điều không tưởng.

“Hơn 80 triệu người hiểu được tiếng nói của mình so với một, hai triệu người ở Mỹ là một khoảng cách rất lớn,” Q. nghĩ.

Với anh Quân, dù đã thất bại “gần như trắng tay” sau khi kinh doanh các dịch vụ ăn uống, anh không hề có ý định bỏ cuộc, mà “vẫn tiếp tục ở lại Việt Nam để chờ chụp những cơ hội khác, vì đất ở đây là đất cơ hội, cơ hội nhiều lắm, nhưng ăn thua là mức độ táo bạo, và may mắn của mình.” Anh Quân nói một cách lạc quan.

Là một kiến trúc sư, anh Andy cũng cho rằng Việt Nam là “mảnh đất cơ hội cho nghề nghiệp của anh.

“Việt Nam là nơi tôi lớn lên và là một môi trường hợp lý trong lúc này đối với ngành chuyên môn của tôi.”

Andy cho biết nếu anh ở Mỹ, anh sẽ “khó có dịp tham gia các dự án tầm cỡ” vì “nước Mỹ đã phát triển và bão hòa rồi nên không còn có các dự án lớn nhiều.” Nhưng điều quan trọng hơn hết là, “nếu có, thì tôi cũng không thể được tham gia vì ở Mỹ sẽ có cả ngàn kiến trúc sư như tôi!”

Trong khi ở Việt Nam, anh Andy cho rằng những người có kinh nghiệm như anh “rất hiếm” nhưng “vì điều kiện khó khăn nên không mấy ai chịu về Việt Nam làm việc.”

Thêm nữa, thực tế mà Andy nhận ra là do tình trạng kinh tế khó khăn đang diễn ra ở khắp nơi, nên “bây giờ có nhiều người nước ngoài về đây làm việc.”

Dù khẳng định rằng mình “không chọn Việt Nam để làm nơi phát triển nghề nghiệp,” nhưng với tư chất của một nhà văn, một người chuyên về lĩnh vực nghệ thuật, anh Đức “mở một quán bar, càfê, và gallery” ở Hà Nội.

“Tôi tổ chức những buổi triển lãm, giới thiệu âm nhạc, văn chương, và phim. Những nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ tôi mời đến gồm nhiều người Việt hải ngoại, người Pháp, Đức, Sri Lanka, Úc, Thụy Điển, Mỹ, Canada, Ý, Ái Nhĩ Lan, và những người trong nước. Ngoài việc trông nom địa điểm này, tôi viết lách, làm tường thuật cho báo chí, dịch thuật.” Đó là công việc anh Đức làm khá thành công tại Việt Nam trong thời gian qua.

Liệu anh Đức có thể thực hiện tất cả những điều đó ở Mỹ, nơi một tiểu bang mà người Việt Nam chỉ xuất hiện lác đác?

Anh Trình, người đã trở về Mỹ sau khi cảm thấy “mệt mỏi” chuyện làm ăn ở Việt Nam, và bán hết phần lớn cổ phần của mình, nhận xét, “Người Việt Nam mình có tham vọng làm chủ. Với một đất nước đang phát triển thì cơ hội để mình thỏa mãn những tham vọng, như được làm chủ chẳng hạn, dễ thực hiện hơn là ở Mỹ.”

Anh Trình lấy một ví dụ thực tế, để làm chủ một khu apartment ở Mỹ không phải là điều dễ. Thế nhưng với một số tiền chừng mực, một Việt kiều về Việt Nam mua một khu đất cất nhà cho công nhân lao động thuê, thì “mình cũng thực hiện được khát vọng làm chủ rồi.”

Máu chảy về tim

Nếu như Q. luôn tâm niệm rằng, “Mỹ mới là quê hương tôi, là nhà của tôi” và đó là lý do để cô phải cân nhắc xem, liệu sau thời gian làm đứa con rời nhà ra đi, khi trở về, gia đình, hàng xóm vốn đầy những tình cảm nhạy cảm thường có của người Việt Nam, liệu họ có xem Q. như người xa lạ không. Suy nghĩ này đã khiến cô hơi chùng chân trước quyết định dấn thân cho cơ hội nghề nghiệp của mình.

Anh Quân cũng không thừa nhận yếu tố con người, quê hương Việt Nam là động lực khiến anh chọn mảnh đất đó làm nơi phát triển nghề nghiệp.

Anh Quân nói, “Đối với người làm kinh doanh như tôi thì chữ ‘tiền’ đặt lên đầu. Bây giờ có đi Ấn Độ hay Châu Phi thì cũng vậy. Nếu mình đã nói mục đích mình đi đến đó kiếm tiền, kinh doanh thì mình sẽ không quan tâm đó là đất nước nào, xứ sở nào, hay cái gì hết. Chỉ biết đó là nơi mình có thể kiếm tiền”

Trong khi đó, yếu tố “máu chảy về tim” dường như lại là một tâm tư lớn với những người còn lại.
“Tôi luôn có tâm tư là cuộc sống bên này chỉ bao bọc trong gia đình và cá nhân. Mình ít có cơ hội mang lại điều gì thật thiết thực cho cộng đồng, bởi mọi thứ hình như đã bão hòa. Trong khi trở về bên kia thì những thứ mình làm trở nên có ý nghĩa hơn.” Anh Trình giãi bày.

Với người luôn có “hoài niệm về Việt Nam” như anh Trình, thì “nếu có thể làm gì cho Việt Nam, cống hiến được gì thì cứ làm.”

Anh Andy, người vẫn đang đeo đuổi các dự án xây dựng tại Việt Nam, nêu suy nghĩ, “Bản chất ai cũng muốn làm điều mình thích, hay nâng cấp trình độ chuyên môn của mình, hay đem sự hiểu biết của mình ra làm điều có lợi cho xã hội. Tất cả những điều này, ở một góc độ nào đó, môi trường làm việc ở Việt Nam đã đáp ứng cho tôi.”

Andy trăn trở, “mình được sống trong một nước Mỹ văn minh, hấp thụ được lối sống văn minh. Vậy tại sao mình lại không làm cho đất nước mình có được điều này, bằng cách tham gia vào tiến trình sống và làm việc ở đây?”

Andy mơ ước “một ngày nào đó Việt Nam sẽ bắt kịp với các nước chung quanh.” Tuy nhiên, điều đó “chậm hay lẹ là một phần lớn tùy thuộc vào những Việt kiều trở về sau khi đã cảm thấy đủ và muốn có một cơ hội cho chính mình, cũng như được làm một điều gì đó cho nơi mình ra đi.”

“Với tôi, Việt Nam là vùng đất mới!” Andy nói thêm.

(Kỳ 2: Thực tế công việc làm ăn tại Việt Nam – kinh nghiệm thành công và thất bại)