Việt kiều về nước làm ăn (2) – bài bị xếp xó

Loạt bài này viết lâu rồi, cũng mất khá nhiều thời gian. Một sếp đọc rồi thì không hài lòng, 2 sếp còn lại thì “nghe nói là còn thiếu dữ kiện” chứ cũng không đọc.

Tôi thì mỗi lúc buồn buồn lại lôi nó ra đọc lại cho vui và ngẫm nghĩ xem tại sao nó lại là không được. Có điều đọc hoài, suy đi nghĩ lại cũng chưa biết là tại sao.
Thôi thì chép về đây để dành làm kỷ niệm và nghiền ngẫm tiếp

Kỳ 2: Làm ăn ở Việt Nam: thử thách sự mạo hiểm

(Kỳ 1 ở đây)

WESTMINSTER (NV).- Dù chọn Việt Nam làm vùng đất mới để phát triển nghề nghiệp, như anh Andy, một kiến trúc sư người Mỹ gốc Việt thừa nhận, hay cho rằng Việt Nam là mảnh đất của nhiều cơ hội, như anh Quân, một Việt kiều Canada nhận xét, thì những Việt kiều về Việt Nam làm ăn mà phóng viên Người Việt đã có dịp tìm hiểu qua đều nhìn nhận rằng: muốn làm ăn ở Việt Nam phải cần có sự mạo hiểm.

Học làm quen với cung cách làm việc

Anh Đức, anh Andy, anh Trình, anh Quân, hay Q., người đang đắn đo nên hay không nên quay về Việt Nam làm việc, đều đã trải qua cuộc sống từ 15 năm trở lên ở Mỹ hay Canada . Nói như anh Andy, họ đều đã “trải qua cuộc sống ổn định và môi trường sống văn minh” đã thấm sâu trong họ.

Thế cho nên, trở về Việt nam làm việc, điều đầu tiên họ phải làm quen là tập thích ứng với cung cách làm việc, ứng xử của đồng hương ngay trên quê cha đất tổ.

Với những trải nghiệm của mình, anh Đức, người làm công việc viết lách-dịch thuật, nhận xét, “Tôi phải làm quen với cách làm việc ở đây: quan hệ, cách đối xử giữa người này và người khác là điều quan trọng. Người ở đây thích học hỏi, nhưng không có những thói quen như ở ngoại quốc: đúng giờ, đúng hẹn.”

Anh Đức nhận ra là người làm việc ở Việt Nam “đặt nặng tình cảm hơn là sự hữu hiệu.” Cho dù xã hội đang thay đổi nhiều sau một thế kỷ chiến tranh, “thể chế cộng sản chuyển dần sang thị trường tự do,” tuy nhiên, “họ chưa có khả năng, hiểu biết như ở nơi khác.”

“Họ cũng đi rất nhanh trong nhiều lãnh vực, trong việc học hỏi những gì mới. Nhưng người Việt Nam có lẽ làm việc theo thói quen, truyền thống, và tinh thần chấp nhận hoàn cảnh, ít cầu toàn và sắp đặt mọi chuyện đường dài.” Anh Đức nói tiếp.

Anh Andy về làm việc cho một “công ty nhà nước được cổ phần hóa” nhưng “cách tổ chức thì còn như thời bao cấp.”

Andy chia sẻ, “Theo hệ thống công chức nhà nước, tôi được nghỉ trưa 2 tiếng đồng hồ. Được cấp áo và vải may quần. Trên lý thuyết thì thủ tục giấy tờ cho người nước ngoài, khâu nhân sự phải lo nhưng họ không biết, nên tự tôi phải lo lấy.”

Lúc đầu, anh Andy cảm thấy “khó chịu” về những điều đó, nhưng từ từ “cũng quen.”

Tuy nhiên, làm quen với những “chi tiết nhỏ nhặt” đó không quan trọng bằng việc làm quen với cung cách làm việc mang tính chất đặc thù của mỗi loại công việc.

Bằng kinh nghiệm thực tế, anh Andy đưa ra ví dụ về chuyện anh phải làm quen với “tiêu chuẩn Việt Nam khác các quy định tiêu chuẩn ở Mỹ.”

Anh nói một cách hài hước, “Trong ngành kiến trúc, Việt Nam dùng nhiều tiêu chuẩn nước ngoài nhưng thực chất họ không hiểu vì sao nước ngoài đưa ra qui định đó.”

Vì vậy, nếu làm theo qui định nước ngoài thì sẽ “tốn diện tích mặt bằng nhiều hơn” cho nên họ không làm theo.

Hay như về phòng cháy chữa cháy, lấy lý do, “Việt Nam chưa từng bị xảy ra,” nên họ làm không đúng theo quy định để “đỡ tốn” hay “chỉ làm lấy lệ cho có.”

“Nói chung, họ làm việc theo trực tính, không theo lịch rõ ràng, nhiều lúc thiết kế chưa xong, họ đã khởi công xây dựng rồi vì cấp trên muốn theo kịp tiến độ đưa ra.” Dù biết rằng phải tập quen với hoàn cảnh nhưng Andy vẫn không khỏi có lúc thấy ngán ngẫm.

Thủ tục hành chánh: rất nhiều thứ ‘ẩn hình’

Anh Quân, Việt kiều về Việt Nam kinh doanh nhà hàng, kể, “Khi còn ở Canada, mình mở một nhà hàng thì giấy tờ qui định rõ ràng, mọi thứ đều có ‘form’ sẵn hướng dẫn. Khi về Việt Nam, mình cũng tưởng là như vậy nhưng thực ra ‘đi thẳng’ không được.”

Dù đã có nghe những chuyện “undertable,” cần phải có “hối lộ này nọ” nhưng anh Quân vừa vì “còn lý tưởng quá” vừa nghĩ “mình có thời gian thì mình đi làm thử xem sao để học thêm một số kinh nghiệm” nên anh Quân đích thân đi lo thủ tục giấy tờ giấy phép kinh doanh cho mình.

Và bài học mà anh Quân có ngay là “thực tế quả không dễ dàng” nên cuối cùng “tôi cũng phải nhờ người khác, quay lại kiểu hối lộ. Khi đó thì việc chạy rất lẹ.” Anh cười ý nhị.

Anh Trình, với kinh nghiệm làm ăn lớn hơn nên cái nhìn cũng bao quát hơn. Theo anh Trình, “Khi đặt một đầu tư lớn, phải tính đến mặt chính quyền. Đây là một khoảng tốn kém mà người đầu tư về Việt Nam khó tính được bởi nó không rạch ròi theo kiểu cộng hồ sơ sổ sách đâu ra đó.”

Anh Trình dẫn giải, bên Mỹ cũng có chuyện tốn kém, nhưng “tốn kém theo kiểu khác.” “Mình ra city xin giấy phép, tiền thuế bao nhiêu mình biết, cần xin những giấy gì mình biết, mình thuê luật sư làm là xong.”

“Trong khi đó, ở Việt Nam lại có rất nhiều thứ ‘ẩn hình,’ không nghe ai nói đến và nếu không có sự chỉ dẫn quen biết thì không thể nào có được đầy đủ giấy tờ cho công việc làm ăn.” Anh Trình chia sẻ.

Kinh doanh bằng việc “mở một quán bar, càfê, và gallery ở Hà Nội,” anh Đức lại cho rằng mình “chưa từng gặp phải chuyện phải lót tay, hối lộ cho công chuyện làm ăn.”

“Ở đây, nhờ vả người quen giới thiệu đến các văn phòng, bộ phận chính quyền là chuyện giúp giải quyết vần đề nhanh chóng hơn. Tôi mới bắt đầu, và làm quán càfê nhỏ thành thử không cần phải lo về chuyện này.” Anh Đức nói.

Tuy nhiên, anh Đức cũng thừa nhận rằng, “Luật lệ ở đây không chặt chẽ, cách làm việc, áp dụng luật lệ từ địa phương đến các bộ, văn phòng, cơ quan còn nhiều nơi chưa thông suốt, rành mạch cho nên rất nhiều người gặp trắc trở.”

Là kiến trúc sư, anh Andy cũng không thoát khỏi việc “chi tiền cò cho giấy tờ.” Có điều, anh Andy quan niệm rằng “tiền cò cũng như tiền chi phí dịch vụ thay vì mình tự mò mẫn, tự làm.”

“Giống như hồ sơ thuế bên Mỹ, tự mình làm lấy cũng được vậy. Nhưng khi mình giao cho người chuyên môn lo thì mình đỡ nhức đầu hơn.”

“Việt Nam là nước đang phát triển, ít nhiều vẫn còn theo lối cũ. Mình nhập gia phải tùy tục.” Andy nói thêm.

Anh Quân thì lại nhìn việc “dùng tiền để giải quyết công việc” bằng con mắt khác.

Anh Quân nhìn nhận, “Lúc đầu rất là bực mình. Nhưng đó là chuyện trước mắt. Nhìn xa hơn một chút thì nó lại giải quyết cho mình những vấn đề nào đó. Ví dụ như khi mình đi xe, bị cảnh sát thổi lại, mình dùng tiền giải quyết rất lẹ, rất khỏe cho mình, và số tiền thực ra không đáng. Như vậy mình giải quyết vấn đề của mình rất là nhanh. Trong khi ở Mỹ, khi bị ‘police’ ‘stop’ lại, mình không thể nào dùng chiêu đó được.”

“Cái nào hay cái nào dở, tôi không bình luận. Tôi chỉ thấy nó thích hợp với môi trường nào và con người nào thôi.” Anh Quân nói thêm về suy nghĩ của mình.

Phải biết mình đang làm gì, muốn làm gì ở Việt Nam

“Phải biết mình đang làm gì, muốn làm gì ở Việt Nam” là kinh nghiệm mà anh Trình nhìn ra, sau thời gian kinh doanh ở nhiều lãnh vực ở Việt Nam.

“Mình phải biết mình đang nhảy vào cái gì. Nhà hàng khác, nhà máy khác, quán cà phê khác, xuất cảng khác, nhập cảng khác, mỗi môi trường đều có cái khó cái dễ của nó. Điều quan trọng nhất là phải biết mình đang làm gì, muốn làm gì ở Việt Nam.” Anh nói.

Nhìn lại, anh Đức biết mình muốn về Việt Nam bởi anh biết “tôi cần ở gần mẹ tôi – bà mang bệnh và đã lớn tuổi.”

Biết điều mình muốn nên anh Đức về Việt Nam mở quán bar, cà phê, và triểm lãm tranh, chấp nhận “thu nhập ít hơn ở Mỹ,” “chấp nhận thủ tục hành chánh nhiêu khê,” “tránh đòi hỏi tiêu chuẩn như ở Mỹ” để đạt được mục đích chính là được ở cạnh mẹ của mình.

Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận những đóng góp quan trọng của anh Đức trong việc mang lại cho người Hà Nội một nhu cầu sinh hoạt văn hóa độc đáo, thông qua những buổi triển lãm, giới thiệu âm nhạc, văn chương và phim ảnh thế giới với sự tham dự của nhiều diễn giả lẫn khách ngoại quốc.

Với anh Quân, anh muốn về Việt Nam bởi theo anh Việt Nam là “đất cơ hội nên sự cạnh tranh nhiều hơn, người ta giành giật, cấu xé nhau nhiều hơn, nên về đây cũng là dịp để mình rèn luyện chính con người mình.”

Anh Quân giải thích, “Nói đúng hơn đó là mảnh đất phù hợp với con người của tôi. Nghĩa là tôi không phải tuýp người thích cuộc sống bình dị, sáng đi làm chiều về, mỗi tháng lãnh lương đều đều rồi cuộc sống cứ vậy tiếp diễn. Tôi không thích như vậy. Tôi thích có thể tháng này tôi không có đồng nào để xài nhưng biết đâu tháng sau tôi lại kiếm được vài trăm ngàn đô. Tôi thích cuộc sống đó nên tôi chấp nhận những rủi ro, chấp nhận môi trường đó để sống.”

Có lẽ chính vì nhìn ra sự cạnh tranh khốc liệt cho những Việt kiều về Việt Nam tìm cơ hội làm ăn nên anh Quân khuyên, “Ai thích cuộc sống bình dị thì lời khuyên là đừng bao giờ về đây làm ăn.”

Kiến trúc sư Andy thì suy nghĩ, “Theo tôi, nếu mình có thể làm điều gì đó để góp phần xây dựng xã hội, làm cho nó tốt đẹp hơn thì tại sao mình lại không làm? Đặc biệt là khi sự hiện diện của mình lại có tác động trực tiếp đến những chung quanh.”

Andy cảm thấy tự tin khi nhìn thấy “thực tế làm việc ở Việt Nam làm cho tôi cảm thấy những điều mình làm là đóng góp cho Việt Nam càng ngày càng phát triển, nâng cao đời sống và một ngày nào đó Việt Nam sẽ bắt kịp đà phát triển của các nước chung quanh.”

Trong khi đó, anh Trình chiêm nghiệm, “Tôi quan niệm cuộc đời là một chuyến đi. Nếu tôi sống ở Mỹ, tôi sẽ biết cuộc sống diễn ra mỗi ngày như thế nào, tất cả đã vào khuôn khổ, đều đều trôi qua nên tôi thấy chuyến đi tôi rất là ngắn. Còn kinh nghiệm về Việt Nam lần rồi cho tôi cảm giác chuyến đi tôi đã được dài thêm. Có thể có lúc tôi phải chui vô bụi, vô gai để mà đi. Tôi cảm thấy mình đã tự cho mình một cơ hội để mà đi và thấy và hội nhập. Nếu tôi không đi, tôi vẫn chỉ là người ‘nghe nói’ chứ không hiểu sâu xa cái gì hết.”

Từ trải nghiệm đó, hiện tại, anh Trình cho mình là người “thất bại về lợi nhuận” và đã trở về Mỹ để tĩnh tâm suy nghĩ và “chờ có cơ hội phù hợp lại quay trở lại Việt Nam.”