Thầy ơi, đừng che!

Cách đây gần 6 năm, tui có viết bài “Thầy ơi, đừng hát” để nói về cảm giác bị rùng mình khi lần đầu tiên nhìn thấy một hòa thượng vừa cầm micro một cách điệu nghệ vừa hát, vừa đi xuống tiếp cận khán giả như ca sĩ chính hiệu, trong một kỳ đại hội Gia Đình Phật Tử nào đó.

Một số độc giả khi đó khuyên tui nên có cái nhìn cởi mở hơn, bởi bên Công Giáo chuyện các cha, các linh mục hát là chuyện bình thường.

Tui đồng ý. Bởi tui xem nhiều phim có các sơ, các cha hát thấy vui nhộn và hay lắm.

Rồi sau đó, trong một lần lên thiền viện ở San Diego, nhìn các ni, các thầy trong một bài hát gì tui quên rồi, tui cũng cảm thấy hoàn toàn dễ chịu, thoải mái để nghe.

Như vậy, có lẽ điều tui bị “dị ứng” nằm ở chỗ phong thái của người “trình diễn.”

Phong thái đó, của một số thầy, lại một lần nữa khiến tui thấy kỳ.

Đó là chuyện che lộng cho các thầy khi đi từ ngoài vào chánh điện hay nơi chuẩn bị hành lễ.

Lần đầu tiên tui cảm thấy cực kỳ ngạc nhiên về cung cách này cách đây cũng vài năm. Hôm đó đi viết bài nhân ngày Vu Lan.

Lần đó, ngoài việc tui cảm thấy quá ư là bất mãn về chuyện “bông hồng cài áo” khi chứng kiến người tham dự phải bỏ tiền vào cái rổ hoa, thì mới được bóc lấy 1 cái hoa trắng hay hoa đỏ và tự cài cho mình, thì chuyện làm tui trố mắt nhìn nữa chính là chuyện che lộng rước các thầy các ni cô vào chánh điện.

Nói ra thì có thể bị cho là “xúc phạm” nhưng mà thiệt tình nhìn thấy lố quá! Nghiêm trang đâu chả thấy, tui chỉ thấy nó hình thức, màu mè và diêm dúa lạ.

Cái thần thái ung dung, tự tại, thoát tục của người đi tu không nằm dưới cái lộng đó. Mà tự nó thoát ra, từ chính các vị chân tu, trong bước đi, mắt nhìn, nét mặt, và cả ở bàn tay lần chuỗi hạt.

Có thể các thầy không phải là người đề xướng cái hình thức này, mà do các Phật tử. Tui biết nhiều Phật tử thương thầy, quý thầy lắm, hơn cả cha mẹ, nên họ sợ thầy bước đi vài bước gặp nắng gió thì có khi bị cảm sốt nhức đầu cũng nên.

Nhưng

Có thương thầy thì hãy để thầy có dáng dấp của hòa thượng, của bậc căn tu. Đừng biến thầy thành diễn viên hát tuồng, mắc cười quá à.P1710969 (1)

vu lan dieu quang 1

 

 

 

 

Posted in Chuyện đời | 4 Comments

Mẹ mơ ước điều gì cho riêng mình?

Thật bất ngờ khi nhiều người mẹ đã tỏ ra lúng túng khi nghe câu hỏi này.

Bởi

“Nếu trong vai trò một người mẹ, tôi không mơ ước gì cho bản thân mình hết. Nếu có chăng, cũng lại là nghĩ cho con.”

Tui hỏi người ta, rồi tui tự hỏi mình.

Cũng không biết mình ước gì luôn, cho riêng mình, khi là một người mẹ.

Ngày mai là Mother’s Day, không nói về lòng con thương mẹ, mà nói về suy nghĩ của một người mẹ trong cách hành xử với con mình vậy.

Một  người bạn hỏi tui, bạn muốn điều này cho con, chồng bạn muốn điều kia cho con. Cái nào là nên?

“Hãy hỏi thằng bé xem nó muốn điều gì.” Đó là điều tui khuyên bạn.

Tui không nhớ từ khi nào tui “thấm nhuần tư tưởng”: cuộc đời là của mỗi người, hãy để họ sống cho chính họ, không phải cho mình.

Tui vẫn nhớ hoài câu thằng nhóc Bi vừa mếu máo vừa nói khi nó mới chừng 8-9 tuổi: “Con nít là phải được vui để lớn và được khóc khi buồn. Con chỉ còn có mấy năm được làm con nít. Khi con 18 tuổi là con phải làm người lớn. Con nít phải được vui.”

Tui nhớ câu của luật sư Andrew Đỗ (giờ là GSV Orange County) khi lần đầu tiên tui phỏng vấn anh cho bài viết nhân ngày Lễ Cha: “Hãy để cho con biết mình luôn có mặt bên nó khi nó cần.”

Tui áp dụng những điều đó trong cách chấp nhận, đồng ý với những suy nghĩ, hành động, việc làm của các con tui.

Cha mẹ nào cũng mong muốn con mình học hành giỏi giang, có nhiều thành tích ở lãnh vực này lãnh vực khác.

Tui cũng có ước mong đó. Nhưng may mắn, nó không là điều tui mơ ước đầu tiên.

Tui nói với người bạn mình, tui tiếp xúc nhiều người, phỏng vấn nhiều người, lắng nghe nhiều câu chuyện, ngẫm nghĩ nhiều vấn đề, để tui có thể tự rút ra cho mình một điều: thành tích sẽ không là gì cả, sự đỗ đạt sẽ không là gì cả, khi con không có được niềm vui sống của chính nó.

Ngay bản thân mình cũng  vậy.

Mình khó chịu, cay cú, hằn hộc khi phải nghe theo sự sắp đặt của người khác.

Mình bức bối, ủ ê, buồn chán khi không được làm điều gì theo ý mình.

Vậy, tại sao mình lại buộc con mình cũng rơi vào hoàn cảnh đó?

Cha mẹ dường như thích nhân danh cho sự “vì con, vì tương lai mai sau của con” để o ép con sống theo ý mình, chứ không phải ý nó.

Mình có đang là người tốt? Dĩ nhiên. Mình có từng thất bại? Dĩ nhiên. Mình học được những bài học sau những va vấp? Dĩ nhiên.

Mình tự tin về mình như thế. Thì tại sao mình không cho con mình cơ hội được tự tin ở chính nó, bằng những trải nghiệm của chính nó?

Nói như vậy, không có nghĩa là tui không có những nỗi lo, sự thấp thỏm không tên của người mẹ.

Nhưng tui cảm thấy may mắn khi chính tui có thể che giấu nỗi âu lo đó vào trong, để con tui có thể nhìn thấy  nó có được sự tin tưởng nơi mẹ nó.

Mỗi người mẹ đều có tình thương và lý lẽ riêng dành cho con mình. Không ai giống ai. Không ai nghĩ mình đang làm điều gì đó là có hại cho con mình. Không người mẹ nào cố tình làm điều đó hết.

Nhưng sư vô tình đôi khi để lại những nỗi đau đến không ngờ, trong cả cuộc đời về sau.

Cuối cùng, là một người mẹ, tui không có ước mơ cho riêng mình trong thiên chức đó. Nhưng tui mong con tui sẽ là đứa nhân hậu, tử tế và bản lãnh sống trong đời. Chỉ vậy. Cho ngày của mẹ.

 

Posted in Chuyện đời | 16 Comments

Sến súa cùng “Duyên Phận”

“Bước qua dòng sông hỏi từng con sóng 
Đời người con gái không muốn yêu ai được không?…”

Tui nghe và thậm chí lải nhải hai câu này không biết bao nhiêu lần. Đôi khi khá hơn, thì lầm bầm thêm được “Phận là con gái, chưa một lần yêu ai /Nhìn về tương lai mà thấy như sông rộng đường dài…”

Chỉ bấy nhiêu, không hơn không kém, mà cũng chẳng nhớ vì sao nó đi vô đầu, nó là ở bài nào, ai hát, nghe ở đâu… Cho đến một dạo, chắc cũng phải cả nửa năm rồi, mới biết những câu đó nằm trong bài “Duyên Phận” mà đâu đâu cũng nghe người ta nhắc đến dưới nhiều kiểu cách khác nhau.

Mà cũng là nghe vậy, và cũng chỉ biết có chừng ấy câu. Cho đến hôm rồi về Sài Gòn, trong một lần ngồi trên taxi mới nghe trọn bài hát này. Nghe một cách chăm chú, say sưa và như chợt ngộ ra nhiều điều… Xốn xang. Day dứt.

Phận là con gái, chưa một lần yêu ai 
Nhìn về tương lai mà thấy như sông rộng đường dài 
Cảnh nhà neo đơn, bầy em chưa lớn trĩu đôi vai gánh nhọc nhằn 
Thầy mẹ thương em nhờ tìm người se duyên 
Lòng cầu mong em đậu bến cho yên một bóng thuyền…”

Trong đầu tui thấp thoáng hình ảnh của làng quê – một làng quê nghèo, mộc mạc, buồn đến hiu hắt

Trong đầu tui thấp thoáng hình ảnh của cô gái trong trẻo, ngây thơ, lam lũ, đang chèo chống một con thuyền giữa mênh mông trời nước, chẳng biết đâu là bến là bờ

Trong đầu tui thấp thoáng hình ảnh của người con gái với đôi gánh oằn vai, bu quanh là bầy em nhỏ giương đôi mắt nhìn. Cũng trong trẻo. hồn nhiên. Nhưng nỗi buồn như cũng chứa đầy hai thúng.

“Chưa yêu lần nao biết ra làm sao 
Biết trong tình yêu như thế nào 
Sông sâu là bao nào đo được đâu 
Lòng người ta ai biết có dài lâu 
Qua bao thời gian sống trong bình an 
Lỡ yêu người ta gieo trái ngang 
Nông sâu tùy sông làm sao mà trông 
Chưa đổ bến biết nơi nào đục trong”

Tui nghĩ có lẽ tác giả Thái Thịnh phải là người miền Tây, phải gắn bó với sông nước, với con người nơi đây đến dường nào mới có thể lột tả được chất hồn hậu, chân chất đến nao lòng của họ qua những câu chữ đó. Người ta khó mà hình dung ra đây là suy nghĩ của người con gái Bắc hay Trung qua những ca từ trên. Mà cũng không  bao giờ là suy nghĩ của những cô gái nơi thị thành. Phải là dân quê. Rất quê. Như cùng quê với Hồ Biểu Chánh vậy. Như cùng cách của ca dao xưa vậy. Mà chính vì chất quê đậm đà đó mà lòng người nao nao. Người ta nhìn thấy cái gì đó mong manh, may rủi trong việc tìm kiếm một tình yêu “Lòng người ta ai biết có dài lâu” – ai có thể trả lời được câu hỏi này, ngay cả người nói tiếng yêu thương?

“Nông sâu tùy sông làm sao mà trông 
Chưa đổ bến biết nơi nào đục trong”

Trong đầu tui lại thấp thoáng hình ảnh của người mẹ trẻ ôm đứa con vài tháng tuổi ngồi ăn xin trong phiên chợ đêm lắt lay những hạt mưa khi rả rít, khi đổ dồn, bởi “em có bầu vài tháng, chồng em bỏ đi đâu không về…”, mà tui có dịp nhìn thấy trong chuyến công tác ở Kuala Lumpur vừa rồi…

Tui thích câu “Qua bao thời gian sống trong bình an/Lỡ yêu người ta gieo trái ngang”. Không phải thích theo kiểu tâm đắc, mà là thích vì nhìn ra một sự cảm thông đến vô cùng.  Thêm vào đó, có lẽ những câu chuyện liên quan đến chữ yêu nghe được gần đây càng khiến tui như vỡ òa nhiều cảm xúc.

Không yêu, lòng mình bình an lắm. Yêu rồi, níu kéo theo bao nhiêu thứ hỉ nộ ái ố, có khi đến điên đến khùng đến không còn là mình nữa.

“Rồi người ta đến theo họ hàng đôi bên 
Một ngày nên duyên một bước em nên người vợ hiền 
Bỏ lại sau lưng bầy em ngơ ngác đứng trông theo mắt đượm buồn”

Tui chợt nhớ đâu đó trong bài viết của một người bạn hình ảnh người chị hai đi lấy chồng xa, lâu lâu có dịp trở về thăm nhà, ôm lấy những đứa em thơ mà tắm táp cho nó, mà hỉ mũi cho nó. Đâu đó hình ảnh đứa em nhỏ giương mắt nhìn chị về, ngọng nghịu “khoe” chị chiếc áo đứt nút không người đơm….

“Thầy mẹ vui hơn mà lệ tràn rưng rưng 
Dặn dò con yêu phải sống theo gia đạo bên chồng “

Lại phải nói thêm một lần nữa rằng, tui nhìn ra cái chất thuần nông thanh khiết qua hình ảnh “Duyên Phận” của Thái Thịnh, như thấy trước mắt mình hình ảnh của Diệu trong “Lá Sầu Riêng,” Nguyệt trong “Tô Ánh Nguyệt,” và cả những hình ảnh không rõ ràng của những cô gái đi lấy chồng… Đài Loan (?). Lạ lùng vậy đó.

Nhưng, dù có tự hỏi lòng bao nhiêu lần đi nữa về tình yêu như thế nào, về lòng người có dài lâu, dù có hoang mang làm sao đo được sông sâu là bao, nông sâu làm sao… thì cuối cùng, đọng lại vẫn là câu hỏi mang tính nhân bản đến muôn đời: Đời người con gái không muốn yêu ai được không?

Thôi thì, biết ra sao ngày sau, âu cũng là “Duyên Phận” – tự ru lòng mình vậy.

Posted in Chuyện đời, nhac | 8 Comments

Lượm lặt từ Sài Gòn

Về đến nhà từ chiều Thứ Sáu, nhưng đến giờ vẫn cứ còn buồn ngủ kiểu thiếu ngủ chứ không phải jetlag trái giờ, trong khi hồi ở Mã Lai, ở Sài Gòn thì lại ngủ giờ giấc đâu ra đó ngon lành.

Giờ mắt cũng muốn nhíp nhưng ráng cầm cự để ghi lại vài điều lượm lặt từ Sài Gòn chứ không là quên rằng mình từng có mặt ở quê nhà vào ngày tháng năm này 🙂

1.

Đặt chân đến Sài Gòn vào trưa Thứ Hai, 10/4. Thủ tục hải quan khá nhanh, chỉ mỗi việc không hài lòng là anh chàng hải quan trẻ măng nhưng chắc sanh nhằm năm xui tháng hạn, mặt bị quỷ ám nên không biết cười, biết chào. Tội nghiệp 🙂

Đi ra nơi băng chuyền lấy hành lý. Người bu quanh đông như kiến, mà hành lý thì ra chậm như rùa. Thấy có một chỗ trống, vừa len chân định bước vô thì một chàng mặc đồng phục… taxi hay bảo vệ gì đó hỏi “Chị có đi hạng thương gia không ạ?” – Không. – “Vậy chị vui lòng tìm chỗ khác, chỗ đây dành cho khách hạng thương gia.”

Hehehe, má ơi, đi máy bay không biết bao nhiêu lần, chưa bao giờ nghe nói có chỗ dành cho khách thương gia nơi băng chuyền lấy hành lý. Hay là có mà tui hỏng biết 🙂

2.

Về đến nhà bà chị chồng gặp ngay hôm trời như nổi lửa. Nóng kinh hồn bạt vía. Tắm táp xong thì cũng kịp lúc có cái hẹn cho công việc. Bà chị gọi taxi cho đi, nhớ đi cũng xa xa, taxi tính đâu gần 100,000 VNĐ, chuyến về thì mắc hơn một chút.

Sự lo lắng “công an theo dõi” của người mà tui tiếp xúc lúc đầu chỉ làm tui hơi buồn cười, nhưng một đỗi thì muốn phát quạu trong bụng – quạu trong bụng thôi, bởi lẽ nỗi sợ của người ta là có thật, mình không thể làm gì để họ quên đi nỗi sợ vô hình vô lý đó. Nhưng mà điều đó cho tui hiểu thêm rằng bệnh “sợ công an, sợ chính quyền” là căn bệnh có thật trong xã hội VN.

3.

Qua ngày hôm sau thì đã bay đi Kuala Lumpur. Chuyện ở Mã Lai thì kể rồi, chỉ kể sau khi xong việc, trở lại Sài Gòn,

Chàng hải quan làm thủ tục nhập cảnh cho tui từ Malaysia vào VN thì lại trông dễ mến hơn, bởi mặt ảnh không bị hà bá ám. Ảnh hỏi tui đi Mã Lai làm gì. Trong tích tắc chọn giữa “đi chơi” và “đi làm tin vụ Đoàn Thị Hương”, tui chọn cái thứ hai. Ảnh nghe xong, ngó tui, rồi “à, vụ cô gái giết anh trai chủ tịch Bắc Hàn đó hả?” Tui gật đầu. Ảnh đưa passport lại cho tui. Rồi đi.

Từ sân bay, tui tự đón taxi về nhà. Tui biết là từ sân bay về nơi tui ở gần lắm, gần đến nỗi tui phải hỏi bà chị “Mình kêu taxi đi gần như vậy có bị… chửi hong?” hehehe, nhưng đó là lần đầu tiên tui tự kêu xe về, chứ xưa giờ toàn có người đưa đón không à 🙂

Bước ra khỏi cổng sân bay, tui hỏi chàng bảo vệ, “Gọi taxi ở đâu anh?” Anh chàng chỉ tay về hướng nhóm tài xế nói “Ở đó đó.”

Tui tới hỏi xe đến địa chỉ tui muốn. Anh chàng tài xế gãi gãi đầu, “Đi gần quá, chị cho 200 ngàn nha.” – Ủa, gần mà sao 200 ngàn lận? – Dạ, thì luôn tiền lệ phí qua cổng sân bay.

Biết là cha nội này tính mắc ít nhất là gấp đôi, nhưng mà chả lẽ đứng trả giá thì cũng chả biết trả sao nên… ừ, thì đi.

Hehhe, đi rồi mới thấy thời gian mình đi chắc chỉ chừng một nửa hôm đầu ở Sài Gòn, mà khi đó chưa tới 100 ngàn 🙂

Thiệt tình.

4.

Hẹn hò đầu tiên ở Sài Gòn là học trò và đồng nghiệp MĐC. Bao giờ cũng đông và không thể đoán trước số lượng 🙂

Rồi thì nhóm bạn trung học, bạn đại  học, bạn cao học, may là không có mẫu giáo và tiểu học 🙂

Điều đáng suy ngẫm nhất sau những buổi này là câu kết luận của một người bạn: Thế hệ chúng mình là thế hệ của những kẻ bị khủng hoảng về lý tưởng và niềm tin.

Câu nói đó, cứ lởn vởn trong đầu, và có lúc khiến tui chảy nước mắt. Hehe, nghe có vẻ nhảm quá nhỉ. Nhưng cảm xúc đó là thật.

5.

Ngày cuối cùng ở Sài Gòn, được nhóm bạn rủ đi ăn ở quán Ngon trong đường Pasteur.

Hình như tui có duyên với quán này nghe. “Quán đó chị dẫn em đến rồi, trước khi em về Mỹ lần đầu.” Chị chồng tui nhắc khi bấm số gọi taxi cho tui đi. Ừm, đó là lần cuối cùng chị dẫn tui đi. Từ đó về sau chị luôn là người gọi xe cho tui, dù giọng chị chỉ đường cho tài xế rất khó nghe – giọng của người sau cơn tai biến – nhưng chưa bao giờ tui có ý định phải lưu giữ những số taxi hay download những cái app gọi Uber hay Grab hết. Bởi, tui chỉ muốn nói “Chị ơi, kêu xe dùm em đi. Em đi đến đây nè…” Và chị lại lần mò, cái tay không còn dễ nghe theo sự điều khiển của não bộ, cầm cái phone bấm bấm, rất chậm và rất lâu, tui vẫn kiên nhẫn chờ.

Lần nữa ở quán này là hẹn gặp thầy Lý nơi Sài Thành nè, cách đây gần 3 năm 🙂

Anyway, quán này ở vị trí vàng của thành phố, lúc nào cũng thấy đông nườm nượp.

Nhưng. Trong nhiều món ăn kêu ra đãi khách, là tui, mỗi thứ một dĩa, ăn chung cả đám, cô bạn kêu 1 tô cao lầu. Mọi người lại có dịp nói về món cao lầu đặc sản ở Hội An.

Lát sau tô cao lầu được mang ra. Tui nhìn những sợi cao lầu, lấy đũa gắp lên 1 sợi, rồi nói, “Cái này là mì quảng mà!” Rồi để như xác định lại xem lúc nãy mình có gọi nhầm không, bạn tui chỉ vào tô hỏi anh chàng phục vụ, “Món này là gì vậy em?” – Dạ cao lầu.

Tui lầm bầm, kỳ hén, sợi cao lầu đâu phải vầy, cái này giống mì quảng hơn.

Anh chàng phục vụ nghe, trả lời liền, “Dạ, ở đây sợi mì quảng và cao lầu giống nhau.”

What? Cái sợi cao lầu với bao nhiêu là bí kiếp lại được đánh đồng như sợi mì quảng nghĩa là sao ta!

Anh bạn đi cùng an ủi, “Ở đây người ta bán cao lầu cho khách nước ngoài hay người không biết cao lầu ăn, không phải bán cho dân Hội An như tụi em.” Hehehe, nhỏ bạn tui làm dâu Hội An rặt mà 🙂

Thua.

6.

Trở lại Nhà Văn Hóa Phụ Nữ thành phố, nơi mà cách đây 27 năm tui từng theo học rất nhiều lớp, nào làm bánh, nào cắm hoa, nào tỉa củ trong thời gian chờ đợi kết quả vào đại học, rồi sau đó là học trang điểm, học gói quà (heheh, nhảm ghê) trước khi đi Mỹ, thấy nó thay đổi đến không ngờ.

Nghe nói mỗi khóa có gần 15,000 người ghi danh học các môn khác nhau mà giật mình.

Mà phải công nhận một điều là từ anh bảo vệ, đến các cô ở phòng giáo vụ, chị phó giám đốc, rồi giám đốc lẫn cô giáo dạy lớp mà tui tiếp xúc đều cực kỳ dễ thương, dễ thương hơn rất nhiều nàng học viên chảnh chẹ :)7.

Nhờ sự dễ thương, nhiệt tình của họ mà tui hoàn thành được gần như đầy đủ mục đích công việc của mình 🙂

Lần tới có về, thế nào cũng sẽ lại vào đây học vài món cấp tốc, đặc biệt là cái món rau câu 3D 🙂

7.

Giá cả thức ăn, hàng hóa ở Sài Gòn khá đắt đỏ.

Đôi khi cứ nghĩ tiền VN rẻ, nhưng mà nhìn giá món đồ, rồi nhẩm sang tiền Mỹ, sao thấy nó mắc bà cố luôn 🙂

Mà chuyện này mới tếu nữa. Lúc ra sân bay TSN trở về Mỹ, trong túi còn hơn 500 ngàn VNĐ. Định mua cái gì ăn lót bụng, nhưng rồi vì cái bụng cứ đau đau nên sợ ăn bị tào tháo rượt. Nhịn. Nhưng mà còn tiền, thôi thì kiếm vài món gì gọi là quà lưu niệm ở sân bay mua luôn mang về chơi.

Ngay cổng vào sau khi đã gửi hành lý, kiểm tra an ninh, có một tiệm. Ghé vào xem. Cầm lên một chiếc thuyền mây bé bé, thấy ghi giá $10. Nhìn qua thấy thêm cái hộp đựng 12 chú tiểu ôm 12 con giáp ghi giá $15. Nghĩ bụng, “bán mắc, ở Mỹ mua mỗi chú có $1.”

Không thèm. Đi tuốt mút vô đến ngay cổng lên máy bay của mình. Ngồi chờ. Trước mặt có thêm nhiều quầy bán hàng  nữa.

Lại lò dò đi đến xem. Cũng cái thuyền bé bé như tiệm kia, nhưng giá ở đây chỉ còn $6. hộp 12 chú tiểu xinh xinh kia chỉ có $8. Heheh, ngộ hén.

Thế là ngó qua ngó lại, bay vèo hết mớ tiền Việt còn sót lại 🙂

8.

Cuối cùng, chuyến đi này thực sự cho tui biết, rằng thì là, tui thật sự bị một người bạn ngỡ rằng rất thân, nghỉ chơi, chỉ vì cái tội, tui cười “Hahahaha” khi đọc cái bài này trên một trang “FB kín,” tức là FB chỉ dành cho 1 nhúm gọi là bạn vào tán gẫu với nhau 🙂

1970935_219365368416565_794729875767172615_n

Thiệt tình thì mất một người bạn vì lý do này tui cũng không tiếc. Chỉ đọng lại trong tui 1 suy nghĩ duy nhất: đến bao giờ thì cái đất nước này mới có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” được, khi mà những người vừa lê lếch được đến một địa vị nào đó trong xã hội, đã đâm ra sợ hãi những tiếng cười, dù rằng, đôi khi tiếng cười đó phát ra chỉ vì một sự mắc cười tự nhiên, chứ không nằm trong tư tưởng chính trị hay diễn biến hòa bình chó chết nào cả.

 

Posted in Chuyện đời | 16 Comments

Lần đầu một mình tác nghiệp nước ngoài

(Viết trước giờ lên máy bay rời khỏi Maylaisia)

KUALA LUMPUR, Maylaisia (NV) – Đây không phải là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài làm phóng sự. Tuy nhiên, chuyến đi về các trại tị nạn ở Indonesia khi mới chập chững vào nghề, hay chuyến đi viết bài về hậu quả của trận bão Haiyan tại Philippines đều có người sắp xếp, lo lắng mọi thứ, tôi chỉ có mặt, tháp tùng và làm bài theo cảm nhận của mình.

Lần này, nhận phân công đi sang Mã Lai tường thuật về  buổi xét xử Đoàn Thị Hương trong vụ án gây chấn động dư luận từ hồi trung tuần Tháng Hai, tôi cảm thấy “đánh lô tô” trong bụng.

Lo là lo thật. Bởi, đó là nơi mình chưa hề đặt chân tới, đó là nơi mình không hề có bất kỳ sự quen biết nào, và, đó là nơi, lần đầu tiên, mình thật sự phải xoay sở một mình, cho một công việc mang tính chính xác và nhanh nhạy.

Sau khi lên Facebook dò tìm những gợi ý, chỉ dẫn về đường đi nước bước, tôi nhận được lời giúp đỡ “em sẽ cầm bảng ghi tên ‘Ngọc Lan’ để đón chị ở sân bay” từ một cô gái chưa từng gặp mặt quen biết.

Đi tìm tòa án

Đáp xuống sân bay Kuala Lumpur lúc gần 2 giờ chiều ngày Thứ Ba, tôi dáo dác nhìn xem ai cầm bảng có tên mình để đi tới.

Lau chùi mắt kiếng hai ba bận mà sao chẳng thấy tên mình, mà người đi đón nơi đây cũng thưa thớt chứ không rình rang như chợ Tân Sơn Nhất.

Haizaa. Giờ sao ta. Đi lòng vòng ra cửa ngó ngó rồi lại đi vô ngó ngó. Tự dưng ánh mắt tôi đụng phải mắt của một cô gái đứng cách tôi chừng một… bước chân. Cổ nhìn tôi. Tôi nhìn cổ. “Chị có phải là Ngọc Lan không?” Cổ lên tiếng trước. “Đúng rồi,” tôi trả lời trong mừng rỡ.

Cổ giới thiệu tên là T. và bảo “Em nhỏ hơn chị, chị kêu em bằng em nghen.” Ừ, muốn kêu gì kêu.

“Để em kêu chồng em lái xe tới,” T. nói bằng giọng Nam Bộ đặc sệt. T. sang Mã Lai đã 18 năm, từ khi mới 18 tuổi. Có chồng người Mã Lai và có 4 đứa con.

Alex, chồng T., xuất hiện, khác hẳn với hình ảnh một ông già xấu xí, “ghê ghê”, mà không biết vì lý do gì tôi dựng lên trong đầu từ khi đọc nhiều bài báo về chuyện những cô gái Việt lấy chồng Đài Loan.

Alex trạc tuổi T., có gương mặt hiền khô và nụ cười thân thiện, nói rất ít và nói nhỏ, khác hẳn 180 độ so với T.

Tôi nói ngay liền công việc của mình khi đến Kuala Lumpur, những nơi tôi muốn đến, những gì tôi muốn làm, dù rằng người giới thiệu T. cho tôi dặn “đừng nói mình là nhà báo, không thôi cổ ngại,” vì đó là nguyên tắc đầu tiên mà nơi tôi làm việc bắt buộc để không phải có những rắc rối về sau.

“Mình muốn đến Tòa án để hỏi thủ tục xin vào dự phiên tòa,” tôi đề nghị.

  1. nói, “Ồ, tòa đó gần đây lắm. Chị có địa chỉ không?”

Tôi đưa địa chỉ ghi trong quyển sổ cho Alex xem và nói tôi lấy địa chỉ này tôi tìm từ Google. Hình như thoáng có nét băn khoăn trên gương mặt cả hai vợ chồng T.

“Nơi đó gần đây không?” Tôi hỏi. “Cách đây khoảng 45 phút. Mình đi chị,” T. trả lời.

Quãng đường gần cả tiếng đó là thời gian để tôi ngó đường phố Kuala Lumpur dưới cơn mưa chợt đến chợt tắt và nghe sơ qua những gì tôi muốn tìm hiểu về đời sống của những phụ nữ Việt sang đây tìm đường mưu sinh.

Không chỉ vậy, những cuộc điện thoại liên tục của T. trên xe với nhiều người cho tôi thoáng hiểu nhiều điều hơn những gì tôi đang muốn biết.

Dừng trước địa chỉ tôi có, cả 3 chúng tôi đều nói “Đây không phải là nơi xử án.”

Và quả đúng như vậy. Vào trong hỏi thì đó là văn phòng của Liên Đoàn Luật Sư Mã Lai ở Salangor. Hỏi về thủ tục xin vào dự phiên tòa, người phụ nữ mặc trang phục truyền thống cho biết: Luật của Mã Lai không cho phép nhà báo vào bên trong phòng xử, chỉ có gia đình nghi can và bị can, ngoài trừ có những thông báo đặc biệt.

Người phụ nữ này chỉ Alex đường đến tòa tối cao Shah Alam. Lái xe khoảng 25 phút nữa thì tới.

Alex dẫn tôi vào trong để hỏi thủ tục và giờ giấc một lần nữa cho chắc ăn.

“Ồ, vụ này xử bên tòa Sepang, không phải ở đây,” hai người phụ nữ đứng nơi chỗ tiếp tân trả lời.

T. bảo, “Em đã nói là xử bên Sepang mà, em đọc báo Mã Lai có thấy nhắc, nhưng tại chị đòi đi đến đây.”

Hic, ai biết đâu, đọc báo thấy nói là phiên tòa sắp tới xử tại tòa án tối cao Shah Alam, thì cứ mò theo đó.

Lại phải lái xe vòng ngược lại thêm một tiếng nữa.

Tôi nhận ra trụ sở tòa án Sepang quen thuộc qua những hình ảnh đã thấy trên báo chí. Đã gần 4 giờ 30 chiều. Alex nói chuyện với người bảo vệ bằng tiếng Mã Lai, rồi nói tôi muốn biết gì thì phải vào trong hỏi nhưng mà giờ họ nghỉ rồi!

Trời ạ. Nhưng biết được nơi đây là yên tâm rồi. Tôi nhờ Alex cầm phone quay dùm tôi một đoạn video clip để chuẩn bị làm bài gửi về nhà.

Rời khỏi tòa án Sepang cũng là lúc đường phố bắt đầu kẹt xe. Và tất cả đều đói rã rời. T. nói “Tụi em sống về đêm nên ăn trễ lắm,” tuy nhiên đến 6 giờ chiều mà chưa có bất cứ thứ gì trong bụng thì quả là… run rẩy.

T. đưa thêm lời đề nghị hoặc tôi ở khách sạn gần tòa cho tiện công việc hoặc ở gần nơi nhà T. để tìm hiểu thêm về đời sống người Việt và tiện cho việc T. đưa tôi những nơi tôi muốn. Dĩ nhiên tôi chọn ở gần nhà T.

Về đến khách sạn đã hơn 7 giờ tối. Tôi bắt tay viết bài đầu tiên với những gì tôi thu lượm được từ cuộc nói chuyện qua điện thoại với bà Nguyễn Thị Vy, mẹ kế Đoàn Thị Hương, và những người nơi tòa án cung cấp.

Liên lạc người nhà nghi phạm và phỏng vấn lãnh sự

Theo hẹn, sau 12 giờ trưa T. sẽ đón tôi chở tới Lãnh sự quán Việt Nam tại Kuala Lumpur. Tôi có một quãng thời gian buổi sáng để làm những việc cần thiết khác.

Mặt trời nơi đây dường như đến muộn và phố xá cũng im lìm cho đến gần 10 giờ mới trở mình.

Tôi rời khách sạn hỏi nơi mua thẻ điện thoại. “Đến Seven 11 có,” người trực ở khách sạn chỉ dẫn.

Mua thẻ điện thoại phải đưa passport. Đó là điều lạ lùng tôi mới biết. Cả hai người bán ở tiệm Seven 11 đều không biết nói tiếng Anh, đúng hơn là chỉ lõm bõm vài con số. Dùng đủ ngôn ngữ quơ tay muốn chân, cuối cùng tôi cũng có thể xài điện thoại được.

Trở lại khách sạn, theo số điện thoại sếp Thắng vừa cung cấp, tôi gọi cho Trần Hoàng, cháu của ông Đoàn Văn Thạnh, bố của Hương, để hỏi tin tức phỏng vấn. Hoàng cho biết, “Bác Thạnh đang ở bên trong lãnh sự, em chờ bên ngoài, khi nào bác ấy ra thì sẽ cho chị biết.”

Tôi gọi tiếp cho một người của tổ chức BPSOS, thì được cho hay “Chiều nay lúc 5 giờ sẽ có cuộc họp báo giữa bác Thạnh với phóng viên các nước. Chị có thể đến đó để hỏi những gì chị muốn.”

Vợ chồng T. chở tôi đến lãnh sự quán cũng đã hơn 4 giờ chiều. Trên đường đi thì nhận được tin nhắn từ người của BPSOS cho hay ông Thạnh sẽ không có mặt tại buổi họp báo, chỉ có Hoàng thay mặt. Đồng thời cũng cho biết mọi liên lạc phỏng vấn ông Thạnh phải qua Lãnh sự quán.

Well, chuyện gì đã xảy ra sau khi ông Thạnh vào tù thăm con vậy? Một nguồn tin cho tôi biết, rằng thì là ông đã được lãnh sự quán sắp xếp cho ăn ở ngay trong trụ sở lãnh sự.

Văn phòng Lãnh sự còn rất đông người chờ đợi làm các loại giấy tờ khi tôi đến.

Khi nghe tôi giới thiệu là nhà báo ở Mỹ, anh Thanh, tiếp tân, cũng là người có quen biết với T. (T. từng nói “Ở đây ai em cũng quen hết”) bảo nếu tôi có số điện thoại của bà Tôn Thị Ngọc Hương, Tham tá lãnh sự, thì cứ thử gọi. Tôi gọi không ai nghe. Anh Thanh đi vào trong, sau đó quay ra cho tôi số của một người tên Hạnh, “Chị không có hẹn trước nên giờ này không có ai tiếp chị. Chị thử gọi số này xem có hỏi được gì không.”

Anh Hạnh, sau này tôi biết tên đầy đủ là Phạm Đức Hạnh, Bí thư thứ hai, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia, qua điện thoại, bằng một giọng rất nhẹ nhàng, lịch sự, nói rằng tôi không thể gặp phỏng vấn ai được vì không báo trước, mà họ thì ít người, phải báo trước cả tuần mới sắp xếp được. Anh xin lỗi vì không giúp được gì.

Đành chịu. Ngay trước cổng lãnh sự, tôi nhờ T. quay dùm một clip để tôi tường thuật ngắn gọn những gì diễn ra.

Xong, T. đưa tôi đến nơi có cuộc họp báo. Như trong bài tường thuật đã nói, ngoài tôi, không có phóng viên người Việt nào có mặt ở đó, trừ phóng viên ngoại quốc  và nước sở tại. Có lẽ họ đã biết trước điều gì.

Và, cũng trong thời điểm này, tôi lại nhận được điện thoại của anh Phạm Đức Hạnh, sắp xếp cho tôi có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với chị Nguyễn Thị Nơ, tham tán phụ trách lãnh sự. Thật lòng, tôi cảm kích điều này.

Trên đường về khách sạn để làm bài, tôi lại nhận được đề nghị từ anh Hạnh, rằng, “Nội dung buổi họp báo có gì cho bọn anh biết với nhé! Mình trao đổi thông tin thôi mà.”

Wow, có sao nói vậy người ơi, tin tức gì cũng sẽ hiện lên mặt báo, thì việc cho người của lãnh sự biết nội dung cũng không có gì là ghê gớm. Giữ lời hứa, nguyên văn buổi họp báo tường thuật trong bài thế nào, tôi copy gửi đi theo email họ cho.

Gửimột bài về tòa soạn xong, T. chở tôi đi kiếm gì ăn tối. Vợ chồng Alex và T. theo tôi mới ngày thứ hai cũng đã muốn đuối, bởi họ phải gác lại công việc của họ.

Đi ăn, tình cờ gặp hai bạn bên báo Tuổi Trẻ.

Xã giao vài câu, tôi hỏi ngày mai mấy giờ họ đến tòa. họ bảo, “Cũng chưa biết nữa. Mấy giờ xử hén?” – “Nghe nói 8 giờ 30,” tôi trả lời.

Cuộc gặp mặt chóng vánh, ai lại lo việc nấy. Tôi trở về viết bài tiếp theo và chuẩn bị mai ra tòa sớm.

Tường thuật từ bên ngoài phòng xử

Sau giấc ngủ 3 tiếng, thức dậy chuẩn bị hành trang “ra trận.” Cầm theo máy ảnh, phòng khi điện thoại hết pin. Máy ghi âm. Máy charge pin.

Vợ chồng T. đón tôi lúc 6 giờ. 7 giờ đến nơi.

Từ xa đã thấy xe bắt đầu kẹt và lính canh dày đặc. Tòa án Sepang hôm đầu tôi đến vắng lặng, nay đông nghịt người. Phóng viên các nơi với dàn giá hầm hố sẵn sàng tác chiến. Cảnh sát dàn đầy bên ngoài, trước tòa và cả đường đối diện.

Nhảy xuống xe, quyết định chỉ dùng phone làm việc, để máy ảnh lại trong xe cho khỏi vướng.

Chạy đến nơi ghi danh dành cho báo chí, mới biết là danh sách 20 phóng viên nước ngoài được vào trong đã kín. Họ đến trước tôi.

Đành chịu. Bắt tay vào làm việc vòng ngoài thôi. Chụp hình. Gửi về. Ghi nội dung như text. Lát sau, nói chuyện với Quốc Dũng qua điện thoại để Quốc Dũng viết từ nhà cho nhanh. Việc đến đâu gọi đến đó.

Lại gặp hai bạn bên Tuổi Trẻ. Hỏi thì biết họ đến từ khoảng 6 giờ, được vào trong do đến sớm. Thầm nghĩ bụng, “Wow, vậy mà hôm qua hỏi mấy giờ đi không nói. Thiệt tình.” Một bài học.

Đi tác nghiệp trong hoàn cảnh “hừng hực khí thế” này, một mình một thân thì phải tính toán chọn làm cái gì bỏ cái gì, không thể ôm hết được.

Không dùng máy ảnh lớn, dùng phone thì cũng có cái lợi là có thể len len vào nơi các nhà báo lớn bắt thang, dựng máy ống kính to ống kính dài, mà luồn tay đưa phone vào những ngóc ngách để chụp hình.

Thấy có tấm biển ghi tiếng Mã Lai dán nơi cổng. Không đọc được gì ngoài số 10. Hỏi chàng cảnh sát “Tờ giấy này nói gì vậy?” – “Phiên tòa bắt đầu lúc 10 giờ.”

Thì đứng chờ. Nóng thôi là nóng. Nhớ ra là mình chẳng có chai nước hay bất cứ cục kẹo cái bánh nào mang theo. Chờ lâu thì lại nghĩ, ủa sao không đến năn nỉ thử coi họ có cho vô không.

Hahaha, đi làm việc mà lại dùng chiêu năn nỉ. Mà đến năn nỉ ỉ ôi thiệt, rằng thì là tui là tờ báo tiếng Việt duy nhất từ Mỹ về làm tin mà không vào trong được thì tiếc quá. Anh chàng cảnh sát trưởng của toán tiếp báo chí đó lắng nghe và giải thích là bây giờ họ không cho vào nữa, là tôi biết cô là phụ nữ đi làm thì cũng muốn giúp nhưng luật qui định phải theo, là blah blah blah. Tôi nhìn gương mặt anh chàng cố gắng giải thích tự dưng cũng đâm mắc cười. Không chỉ vậy, ảnh còn kêu thêm đồng đội đứng xung quanh xác nhận điều ảnh nói là đúng không… Haha, thôi ông không cho vô thì ông cho tui miếng nước uống đi, tui khát quá!

Họ nói 10 giờ xử, chắc 9:30 xe chở phạm nhân sẽ tới. Chờ hoài, đến 9 giờ 45 thấy có một anh nhà báo từ trong đi ra đứng bên hàng rào nói chuyện với một anh cầm máy quay bên ngoài, tôi chạy lại nghe ké. Mới hay là phiên tòa vừa xong. Trời. Thông báo 10 giờ xử dán chình ình mà 9:45 thì tòa xong. Hay quá. Toàn bộ nội dung chính bên trong như thế nào, tôi nghe qua tường thuật của anh này, và gửi ngay về cho đồng nghiệp.

Lúc đó mới biết là các nghi can đã không đưa vào bằng cửa chính, mà đi cửa sau.

Khoảng 5 phút sau khi tôi nghe những gì ông nhà báo đó nói với đồng nghiệp bên ngoài, thì mới thấy mọi người từ phòng xử ùa ra. Khi đó tất cả như ong vỡ trận. Máy quay bật lên. Túm được ai phỏng vấn đó.

Người thì chụp hình. Người thì quay phim. Người thì mở máy tính viết. Rần rần. Chạy tới chạy lui, ngó thấy một anh Hàn Quốc vừa lau mồ hôi vừa đọc tờ giấy gì trên tờ giấy in. Tôi ghé mắt vào. Ồ “Bài nói chuyện của luật sư phải không?” Tôi hỏi. “Vâng,” anh ta trả lời. Họ có đồng đội bên trong bên ngoài nên có nhiều thông tin. Ngó qua bên kia, cũng thấy một chị người gì chả biết, cũng đang chúi mặt vào văn bản đó. “Cho tôi chụp bản này nha,” miệng nói là tay tôi canh bấm máy liền. Hai trang giấy. Gửi luôn về nhà để đồng nghiệp lấy thêm thông tin, trong lúc mình tìm kiếm thứ khác tại hiện trường.

Tôi đã có thông tin trước là ông Thạnh sẽ không có mặt tham dự phiên tòa. Nghĩ cũng lạ. Lặn lội sang đây nhưng lại không xuất hiện nơi này. Mà cũng có thể ông thấy vào tù nhìn thấy con là đủ. Nhiều thứ “bí mật” bên trong khó giải thích. Thế nhưng, lạ nhất là tôi nhìn thấy Hoàng, người cháu dẫn ông Thạnh đi sang đây. Hoàng hỏi tôi, “Chị có thấy bác Thạnh đến dự không?” – “Mình không thấy, nghe nói là bác ấy không đến.” – “Em có thấy một chị người Nhật chụp được hình bác áy ngồi trong xe lãnh sự, nhìn được nửa mặt, vì bác ấy khác với mọi người trong lãnh sự nên em biết đó là bác Thạnh.” – “Ủa, thế em không đi cùng, ở cùng bác ấy à?” – “Dạ, bác ấy ở trong Lãnh sự, em không liên lạc được.”

Hay hén. Hai người cùng đi trong một hành trình, mà lại không biết tin nhau. Vậy là sao?

Tôi xác nhận việc ông Thạnh không có mặt trong phiên tòa thêm một lần nữa với nhà báo Lê Nam. “Ông ấy không có mặt trong tòa.” Lê Nam nói.

Rần rần rồi cũng xong.

Vợ chồng T. và Alex nằm trong xe ngủ suốt mấy tiếng chờ tôi. Về nhà thôi. Mệt rồi.

Bài tường thuật vụ án coi như tạm xong.

Tôi dành thời gian ít ỏi còn lại theo T. đi xem một phiên chợ đêm của người nghèo Mã Lai để hiểu thêm một góc sinh hoạt của cả người Việt mình nơi xứ lạ.

Để từ đây, nghe thêm những câu chuyện mình ngỡ chỉ là tiểu thuyết, như chuyện “trinh em bán, không có cho,” hay chuyện người phụ nữ ẵm đứa con vài tháng tuổi ngồi xin tiền vì “bị chồng gạt sang đây, rồi ảnh bỏ đi mất.” Nợ nần tiền sanh đẻ còn tùm lum nên không biết làm sao về, dành theo người ta chỉ ra ngồi đây xin ăn… Vụ án Đoàn Thị Hương tạm dừng lại, bắt đầu cho bài viết những phận người khác tiếp theo.

Posted in Chuyện nghề, Chuyện đời | 1 Comment