Lần đầu một mình tác nghiệp nước ngoài

(Viết trước giờ lên máy bay rời khỏi Maylaisia)

KUALA LUMPUR, Maylaisia (NV) – Đây không phải là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài làm phóng sự. Tuy nhiên, chuyến đi về các trại tị nạn ở Indonesia khi mới chập chững vào nghề, hay chuyến đi viết bài về hậu quả của trận bão Haiyan tại Philippines đều có người sắp xếp, lo lắng mọi thứ, tôi chỉ có mặt, tháp tùng và làm bài theo cảm nhận của mình.

Lần này, nhận phân công đi sang Mã Lai tường thuật về  buổi xét xử Đoàn Thị Hương trong vụ án gây chấn động dư luận từ hồi trung tuần Tháng Hai, tôi cảm thấy “đánh lô tô” trong bụng.

Lo là lo thật. Bởi, đó là nơi mình chưa hề đặt chân tới, đó là nơi mình không hề có bất kỳ sự quen biết nào, và, đó là nơi, lần đầu tiên, mình thật sự phải xoay sở một mình, cho một công việc mang tính chính xác và nhanh nhạy.

Sau khi lên Facebook dò tìm những gợi ý, chỉ dẫn về đường đi nước bước, tôi nhận được lời giúp đỡ “em sẽ cầm bảng ghi tên ‘Ngọc Lan’ để đón chị ở sân bay” từ một cô gái chưa từng gặp mặt quen biết.

Đi tìm tòa án

Đáp xuống sân bay Kuala Lumpur lúc gần 2 giờ chiều ngày Thứ Ba, tôi dáo dác nhìn xem ai cầm bảng có tên mình để đi tới.

Lau chùi mắt kiếng hai ba bận mà sao chẳng thấy tên mình, mà người đi đón nơi đây cũng thưa thớt chứ không rình rang như chợ Tân Sơn Nhất.

Haizaa. Giờ sao ta. Đi lòng vòng ra cửa ngó ngó rồi lại đi vô ngó ngó. Tự dưng ánh mắt tôi đụng phải mắt của một cô gái đứng cách tôi chừng một… bước chân. Cổ nhìn tôi. Tôi nhìn cổ. “Chị có phải là Ngọc Lan không?” Cổ lên tiếng trước. “Đúng rồi,” tôi trả lời trong mừng rỡ.

Cổ giới thiệu tên là T. và bảo “Em nhỏ hơn chị, chị kêu em bằng em nghen.” Ừ, muốn kêu gì kêu.

“Để em kêu chồng em lái xe tới,” T. nói bằng giọng Nam Bộ đặc sệt. T. sang Mã Lai đã 18 năm, từ khi mới 18 tuổi. Có chồng người Mã Lai và có 4 đứa con.

Alex, chồng T., xuất hiện, khác hẳn với hình ảnh một ông già xấu xí, “ghê ghê”, mà không biết vì lý do gì tôi dựng lên trong đầu từ khi đọc nhiều bài báo về chuyện những cô gái Việt lấy chồng Đài Loan.

Alex trạc tuổi T., có gương mặt hiền khô và nụ cười thân thiện, nói rất ít và nói nhỏ, khác hẳn 180 độ so với T.

Tôi nói ngay liền công việc của mình khi đến Kuala Lumpur, những nơi tôi muốn đến, những gì tôi muốn làm, dù rằng người giới thiệu T. cho tôi dặn “đừng nói mình là nhà báo, không thôi cổ ngại,” vì đó là nguyên tắc đầu tiên mà nơi tôi làm việc bắt buộc để không phải có những rắc rối về sau.

“Mình muốn đến Tòa án để hỏi thủ tục xin vào dự phiên tòa,” tôi đề nghị.

  1. nói, “Ồ, tòa đó gần đây lắm. Chị có địa chỉ không?”

Tôi đưa địa chỉ ghi trong quyển sổ cho Alex xem và nói tôi lấy địa chỉ này tôi tìm từ Google. Hình như thoáng có nét băn khoăn trên gương mặt cả hai vợ chồng T.

“Nơi đó gần đây không?” Tôi hỏi. “Cách đây khoảng 45 phút. Mình đi chị,” T. trả lời.

Quãng đường gần cả tiếng đó là thời gian để tôi ngó đường phố Kuala Lumpur dưới cơn mưa chợt đến chợt tắt và nghe sơ qua những gì tôi muốn tìm hiểu về đời sống của những phụ nữ Việt sang đây tìm đường mưu sinh.

Không chỉ vậy, những cuộc điện thoại liên tục của T. trên xe với nhiều người cho tôi thoáng hiểu nhiều điều hơn những gì tôi đang muốn biết.

Dừng trước địa chỉ tôi có, cả 3 chúng tôi đều nói “Đây không phải là nơi xử án.”

Và quả đúng như vậy. Vào trong hỏi thì đó là văn phòng của Liên Đoàn Luật Sư Mã Lai ở Salangor. Hỏi về thủ tục xin vào dự phiên tòa, người phụ nữ mặc trang phục truyền thống cho biết: Luật của Mã Lai không cho phép nhà báo vào bên trong phòng xử, chỉ có gia đình nghi can và bị can, ngoài trừ có những thông báo đặc biệt.

Người phụ nữ này chỉ Alex đường đến tòa tối cao Shah Alam. Lái xe khoảng 25 phút nữa thì tới.

Alex dẫn tôi vào trong để hỏi thủ tục và giờ giấc một lần nữa cho chắc ăn.

“Ồ, vụ này xử bên tòa Sepang, không phải ở đây,” hai người phụ nữ đứng nơi chỗ tiếp tân trả lời.

T. bảo, “Em đã nói là xử bên Sepang mà, em đọc báo Mã Lai có thấy nhắc, nhưng tại chị đòi đi đến đây.”

Hic, ai biết đâu, đọc báo thấy nói là phiên tòa sắp tới xử tại tòa án tối cao Shah Alam, thì cứ mò theo đó.

Lại phải lái xe vòng ngược lại thêm một tiếng nữa.

Tôi nhận ra trụ sở tòa án Sepang quen thuộc qua những hình ảnh đã thấy trên báo chí. Đã gần 4 giờ 30 chiều. Alex nói chuyện với người bảo vệ bằng tiếng Mã Lai, rồi nói tôi muốn biết gì thì phải vào trong hỏi nhưng mà giờ họ nghỉ rồi!

Trời ạ. Nhưng biết được nơi đây là yên tâm rồi. Tôi nhờ Alex cầm phone quay dùm tôi một đoạn video clip để chuẩn bị làm bài gửi về nhà.

Rời khỏi tòa án Sepang cũng là lúc đường phố bắt đầu kẹt xe. Và tất cả đều đói rã rời. T. nói “Tụi em sống về đêm nên ăn trễ lắm,” tuy nhiên đến 6 giờ chiều mà chưa có bất cứ thứ gì trong bụng thì quả là… run rẩy.

T. đưa thêm lời đề nghị hoặc tôi ở khách sạn gần tòa cho tiện công việc hoặc ở gần nơi nhà T. để tìm hiểu thêm về đời sống người Việt và tiện cho việc T. đưa tôi những nơi tôi muốn. Dĩ nhiên tôi chọn ở gần nhà T.

Về đến khách sạn đã hơn 7 giờ tối. Tôi bắt tay viết bài đầu tiên với những gì tôi thu lượm được từ cuộc nói chuyện qua điện thoại với bà Nguyễn Thị Vy, mẹ kế Đoàn Thị Hương, và những người nơi tòa án cung cấp.

Liên lạc người nhà nghi phạm và phỏng vấn lãnh sự

Theo hẹn, sau 12 giờ trưa T. sẽ đón tôi chở tới Lãnh sự quán Việt Nam tại Kuala Lumpur. Tôi có một quãng thời gian buổi sáng để làm những việc cần thiết khác.

Mặt trời nơi đây dường như đến muộn và phố xá cũng im lìm cho đến gần 10 giờ mới trở mình.

Tôi rời khách sạn hỏi nơi mua thẻ điện thoại. “Đến Seven 11 có,” người trực ở khách sạn chỉ dẫn.

Mua thẻ điện thoại phải đưa passport. Đó là điều lạ lùng tôi mới biết. Cả hai người bán ở tiệm Seven 11 đều không biết nói tiếng Anh, đúng hơn là chỉ lõm bõm vài con số. Dùng đủ ngôn ngữ quơ tay muốn chân, cuối cùng tôi cũng có thể xài điện thoại được.

Trở lại khách sạn, theo số điện thoại sếp Thắng vừa cung cấp, tôi gọi cho Trần Hoàng, cháu của ông Đoàn Văn Thạnh, bố của Hương, để hỏi tin tức phỏng vấn. Hoàng cho biết, “Bác Thạnh đang ở bên trong lãnh sự, em chờ bên ngoài, khi nào bác ấy ra thì sẽ cho chị biết.”

Tôi gọi tiếp cho một người của tổ chức BPSOS, thì được cho hay “Chiều nay lúc 5 giờ sẽ có cuộc họp báo giữa bác Thạnh với phóng viên các nước. Chị có thể đến đó để hỏi những gì chị muốn.”

Vợ chồng T. chở tôi đến lãnh sự quán cũng đã hơn 4 giờ chiều. Trên đường đi thì nhận được tin nhắn từ người của BPSOS cho hay ông Thạnh sẽ không có mặt tại buổi họp báo, chỉ có Hoàng thay mặt. Đồng thời cũng cho biết mọi liên lạc phỏng vấn ông Thạnh phải qua Lãnh sự quán.

Well, chuyện gì đã xảy ra sau khi ông Thạnh vào tù thăm con vậy? Một nguồn tin cho tôi biết, rằng thì là ông đã được lãnh sự quán sắp xếp cho ăn ở ngay trong trụ sở lãnh sự.

Văn phòng Lãnh sự còn rất đông người chờ đợi làm các loại giấy tờ khi tôi đến.

Khi nghe tôi giới thiệu là nhà báo ở Mỹ, anh Thanh, tiếp tân, cũng là người có quen biết với T. (T. từng nói “Ở đây ai em cũng quen hết”) bảo nếu tôi có số điện thoại của bà Tôn Thị Ngọc Hương, Tham tá lãnh sự, thì cứ thử gọi. Tôi gọi không ai nghe. Anh Thanh đi vào trong, sau đó quay ra cho tôi số của một người tên Hạnh, “Chị không có hẹn trước nên giờ này không có ai tiếp chị. Chị thử gọi số này xem có hỏi được gì không.”

Anh Hạnh, sau này tôi biết tên đầy đủ là Phạm Đức Hạnh, Bí thư thứ hai, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia, qua điện thoại, bằng một giọng rất nhẹ nhàng, lịch sự, nói rằng tôi không thể gặp phỏng vấn ai được vì không báo trước, mà họ thì ít người, phải báo trước cả tuần mới sắp xếp được. Anh xin lỗi vì không giúp được gì.

Đành chịu. Ngay trước cổng lãnh sự, tôi nhờ T. quay dùm một clip để tôi tường thuật ngắn gọn những gì diễn ra.

Xong, T. đưa tôi đến nơi có cuộc họp báo. Như trong bài tường thuật đã nói, ngoài tôi, không có phóng viên người Việt nào có mặt ở đó, trừ phóng viên ngoại quốc  và nước sở tại. Có lẽ họ đã biết trước điều gì.

Và, cũng trong thời điểm này, tôi lại nhận được điện thoại của anh Phạm Đức Hạnh, sắp xếp cho tôi có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với chị Nguyễn Thị Nơ, tham tán phụ trách lãnh sự. Thật lòng, tôi cảm kích điều này.

Trên đường về khách sạn để làm bài, tôi lại nhận được đề nghị từ anh Hạnh, rằng, “Nội dung buổi họp báo có gì cho bọn anh biết với nhé! Mình trao đổi thông tin thôi mà.”

Wow, có sao nói vậy người ơi, tin tức gì cũng sẽ hiện lên mặt báo, thì việc cho người của lãnh sự biết nội dung cũng không có gì là ghê gớm. Giữ lời hứa, nguyên văn buổi họp báo tường thuật trong bài thế nào, tôi copy gửi đi theo email họ cho.

Gửimột bài về tòa soạn xong, T. chở tôi đi kiếm gì ăn tối. Vợ chồng Alex và T. theo tôi mới ngày thứ hai cũng đã muốn đuối, bởi họ phải gác lại công việc của họ.

Đi ăn, tình cờ gặp hai bạn bên báo Tuổi Trẻ.

Xã giao vài câu, tôi hỏi ngày mai mấy giờ họ đến tòa. họ bảo, “Cũng chưa biết nữa. Mấy giờ xử hén?” – “Nghe nói 8 giờ 30,” tôi trả lời.

Cuộc gặp mặt chóng vánh, ai lại lo việc nấy. Tôi trở về viết bài tiếp theo và chuẩn bị mai ra tòa sớm.

Tường thuật từ bên ngoài phòng xử

Sau giấc ngủ 3 tiếng, thức dậy chuẩn bị hành trang “ra trận.” Cầm theo máy ảnh, phòng khi điện thoại hết pin. Máy ghi âm. Máy charge pin.

Vợ chồng T. đón tôi lúc 6 giờ. 7 giờ đến nơi.

Từ xa đã thấy xe bắt đầu kẹt và lính canh dày đặc. Tòa án Sepang hôm đầu tôi đến vắng lặng, nay đông nghịt người. Phóng viên các nơi với dàn giá hầm hố sẵn sàng tác chiến. Cảnh sát dàn đầy bên ngoài, trước tòa và cả đường đối diện.

Nhảy xuống xe, quyết định chỉ dùng phone làm việc, để máy ảnh lại trong xe cho khỏi vướng.

Chạy đến nơi ghi danh dành cho báo chí, mới biết là danh sách 20 phóng viên nước ngoài được vào trong đã kín. Họ đến trước tôi.

Đành chịu. Bắt tay vào làm việc vòng ngoài thôi. Chụp hình. Gửi về. Ghi nội dung như text. Lát sau, nói chuyện với Quốc Dũng qua điện thoại để Quốc Dũng viết từ nhà cho nhanh. Việc đến đâu gọi đến đó.

Lại gặp hai bạn bên Tuổi Trẻ. Hỏi thì biết họ đến từ khoảng 6 giờ, được vào trong do đến sớm. Thầm nghĩ bụng, “Wow, vậy mà hôm qua hỏi mấy giờ đi không nói. Thiệt tình.” Một bài học.

Đi tác nghiệp trong hoàn cảnh “hừng hực khí thế” này, một mình một thân thì phải tính toán chọn làm cái gì bỏ cái gì, không thể ôm hết được.

Không dùng máy ảnh lớn, dùng phone thì cũng có cái lợi là có thể len len vào nơi các nhà báo lớn bắt thang, dựng máy ống kính to ống kính dài, mà luồn tay đưa phone vào những ngóc ngách để chụp hình.

Thấy có tấm biển ghi tiếng Mã Lai dán nơi cổng. Không đọc được gì ngoài số 10. Hỏi chàng cảnh sát “Tờ giấy này nói gì vậy?” – “Phiên tòa bắt đầu lúc 10 giờ.”

Thì đứng chờ. Nóng thôi là nóng. Nhớ ra là mình chẳng có chai nước hay bất cứ cục kẹo cái bánh nào mang theo. Chờ lâu thì lại nghĩ, ủa sao không đến năn nỉ thử coi họ có cho vô không.

Hahaha, đi làm việc mà lại dùng chiêu năn nỉ. Mà đến năn nỉ ỉ ôi thiệt, rằng thì là tui là tờ báo tiếng Việt duy nhất từ Mỹ về làm tin mà không vào trong được thì tiếc quá. Anh chàng cảnh sát trưởng của toán tiếp báo chí đó lắng nghe và giải thích là bây giờ họ không cho vào nữa, là tôi biết cô là phụ nữ đi làm thì cũng muốn giúp nhưng luật qui định phải theo, là blah blah blah. Tôi nhìn gương mặt anh chàng cố gắng giải thích tự dưng cũng đâm mắc cười. Không chỉ vậy, ảnh còn kêu thêm đồng đội đứng xung quanh xác nhận điều ảnh nói là đúng không… Haha, thôi ông không cho vô thì ông cho tui miếng nước uống đi, tui khát quá!

Họ nói 10 giờ xử, chắc 9:30 xe chở phạm nhân sẽ tới. Chờ hoài, đến 9 giờ 45 thấy có một anh nhà báo từ trong đi ra đứng bên hàng rào nói chuyện với một anh cầm máy quay bên ngoài, tôi chạy lại nghe ké. Mới hay là phiên tòa vừa xong. Trời. Thông báo 10 giờ xử dán chình ình mà 9:45 thì tòa xong. Hay quá. Toàn bộ nội dung chính bên trong như thế nào, tôi nghe qua tường thuật của anh này, và gửi ngay về cho đồng nghiệp.

Lúc đó mới biết là các nghi can đã không đưa vào bằng cửa chính, mà đi cửa sau.

Khoảng 5 phút sau khi tôi nghe những gì ông nhà báo đó nói với đồng nghiệp bên ngoài, thì mới thấy mọi người từ phòng xử ùa ra. Khi đó tất cả như ong vỡ trận. Máy quay bật lên. Túm được ai phỏng vấn đó.

Người thì chụp hình. Người thì quay phim. Người thì mở máy tính viết. Rần rần. Chạy tới chạy lui, ngó thấy một anh Hàn Quốc vừa lau mồ hôi vừa đọc tờ giấy gì trên tờ giấy in. Tôi ghé mắt vào. Ồ “Bài nói chuyện của luật sư phải không?” Tôi hỏi. “Vâng,” anh ta trả lời. Họ có đồng đội bên trong bên ngoài nên có nhiều thông tin. Ngó qua bên kia, cũng thấy một chị người gì chả biết, cũng đang chúi mặt vào văn bản đó. “Cho tôi chụp bản này nha,” miệng nói là tay tôi canh bấm máy liền. Hai trang giấy. Gửi luôn về nhà để đồng nghiệp lấy thêm thông tin, trong lúc mình tìm kiếm thứ khác tại hiện trường.

Tôi đã có thông tin trước là ông Thạnh sẽ không có mặt tham dự phiên tòa. Nghĩ cũng lạ. Lặn lội sang đây nhưng lại không xuất hiện nơi này. Mà cũng có thể ông thấy vào tù nhìn thấy con là đủ. Nhiều thứ “bí mật” bên trong khó giải thích. Thế nhưng, lạ nhất là tôi nhìn thấy Hoàng, người cháu dẫn ông Thạnh đi sang đây. Hoàng hỏi tôi, “Chị có thấy bác Thạnh đến dự không?” – “Mình không thấy, nghe nói là bác ấy không đến.” – “Em có thấy một chị người Nhật chụp được hình bác áy ngồi trong xe lãnh sự, nhìn được nửa mặt, vì bác ấy khác với mọi người trong lãnh sự nên em biết đó là bác Thạnh.” – “Ủa, thế em không đi cùng, ở cùng bác ấy à?” – “Dạ, bác ấy ở trong Lãnh sự, em không liên lạc được.”

Hay hén. Hai người cùng đi trong một hành trình, mà lại không biết tin nhau. Vậy là sao?

Tôi xác nhận việc ông Thạnh không có mặt trong phiên tòa thêm một lần nữa với nhà báo Lê Nam. “Ông ấy không có mặt trong tòa.” Lê Nam nói.

Rần rần rồi cũng xong.

Vợ chồng T. và Alex nằm trong xe ngủ suốt mấy tiếng chờ tôi. Về nhà thôi. Mệt rồi.

Bài tường thuật vụ án coi như tạm xong.

Tôi dành thời gian ít ỏi còn lại theo T. đi xem một phiên chợ đêm của người nghèo Mã Lai để hiểu thêm một góc sinh hoạt của cả người Việt mình nơi xứ lạ.

Để từ đây, nghe thêm những câu chuyện mình ngỡ chỉ là tiểu thuyết, như chuyện “trinh em bán, không có cho,” hay chuyện người phụ nữ ẵm đứa con vài tháng tuổi ngồi xin tiền vì “bị chồng gạt sang đây, rồi ảnh bỏ đi mất.” Nợ nần tiền sanh đẻ còn tùm lum nên không biết làm sao về, dành theo người ta chỉ ra ngồi đây xin ăn… Vụ án Đoàn Thị Hương tạm dừng lại, bắt đầu cho bài viết những phận người khác tiếp theo.