Lần đầu đến Huế

Huế là quê ngoại tôi. Nếu không tính 2 tiếng đồng hồ ghé Huế trong chuyến xuyên Việt hồi năm 1999, thì lần đến Huế trong chuyến về Việt Nam vừa rồi có thể xem là lần đầu tiên tôi đặt chân về quê ngoại.
Tôi từng nghe má tôi nói đến làng An Cựu, núi Ngự Bình, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền.
Tôi cũng từng nghe người ta nói đến Thành Nội, Ngọ Môn, Thiên Mụ, Đập Đá, Vĩ Dạ
Tôi nghe thì nhiều, nhưng với tôi, tất cả mọi địa danh đó vẫn là xa lạ.

Tôi không biết nhiều về bà con bên họ ngoại (lẫn họ nội).

Ba má tôi là những người xa quê, xa gia đình từ nhỏ, sống trong cảnh túng thiếu, nghèo khổ, là những đứa trẻ tự thân bươn chải mà sống. Có lẽ vì thế nên thửơ nhỏ anh em tôi, không được như lũ bạn bè, được tung tăng về quê mỗi khi hè về, tết đến.
Tiếng “quê” với tôi là một cái gì đó xa xôi và không có thực.

Tôi biết ông nội, ông ngoại, còn bà nội bà ngoại thì đã mất từ lâu lắm rồi. Tôi cũng biết tôi có chú, có bác, có cậu, có dì.
Những người bà con xa hơn tí, thi thoảng tôi có nghe má tôi nhắc đến.
Khi điều kiện kinh tế có phần thoải mái hơn, xe cộ đi lại đỡ phần khó khăn hơn thì tên của những người họ hàng tôi được nghe nói đến nhiều hơn.
“Nghe” nhưng không chắc là tôi biết mặt, bởi đôi lúc họ ghé nhà thì tôi đi học, rồi tôi lại đi lấy chồng sớm. Mà tôi cũng không phải là người hay trò chuyện nhiều với những người tôi “thấy lạ” (tôi chỉ nói nhiều với bạn bè).
Má tôi là người luôn có ao ước được về làng, thăm mộ bà ngoại, thăm bà con. Nhưng nhiều năm sau này, chân má tôi yếu lắm rồi, không đi được nữa. Đã có lần tôi hứa tôi sẽ đi về cùng má, nhưng rồi lần lữa chuyện này chuyện khác, tôi và má chẳng có chuyến đi nào cùng nhau.
Thế nên tôi đến Huế, chỉ vì muốn làm điều gì đó cho má tôi, bên cạnh chút tò mò muốn nhìn thấy Huế.
Chuẩn bị về Việt Nam, tôi chỉ hỏi xin má số điện thoại của một người cậu họ mà tôi thường nghe má tôi nhắc tên. Đó là người được má gửi gắm việc coi sóc mộ phần ông bà.
Khi ngồi trên xe từ sân bay về khách sạn cùng cô Hoàng Dung, cô chủ nhiệm cũng là đồng nghiệp tôi suốt thời gian ở MĐC, tôi đã hỏi người tài xế, “làng An Cựu ở đâu? Chợ Đông Ba ở đâu?”
Khi xe chạy qua, nhìn thấy chữ ‘Chợ An Cựu” tự dưng tôi cảm thấy xốn xang. Không hiểu. Một cái gì đó vừa xa lạ lại vừa thật gần.
Buổi chiều đầu tiên ở Huế, tôi rủ cô Hoàng Dung đi bộ ra chợ Đông Ba.
Tôi muốn đi ra đó bởi tên chợ đó có gắn với tuổi thơ má tôi.
Tôi rủ cô Dung ngồi chồm hổm trong chợ bên thúng bán bánh bột lọc để ăn, sề xuống bên bà bán hột vịt lộn để ăn,… tất cả đều không phải vì tôi muốn ăn trong cách đó.

Mà vì
Tôi muốn tưởng tượng hình ảnh bà ngoại tôi qua hình ảnh người phụ nữ bán bánh bột lọc đó
Tôi muốn hình dung cảnh má tôi đã gói ghém tiền công ở đợ cho nhà người họ hàng, để năm khi mười họa xin nghỉ một tối, chạy về thăm mệ, thăm mạ, không quên ghé mua vài trứng vịt lộn, ít thuốc lá Cẩm Lệ về làm quà; để ngủ với mạ được 1 đêm. Sáng hôm sau, đứa bé mới hơn mười tuổi đầu đó lại vừa quay trở về nhà chủ vừa khóc nuối tiếc “giá như tối nay mình hãy về”…
Tôi chỉ cảm thấy nước từ mắt tôi cứ chực trào ra, và tôi phải cố đừng cho nó trào ra…

Ngày thứ hai ở Huế, tôi liên lạc với người cậu họ nhờ cậu đưa tôi đi thăm mộ bà ngoại tôi.
Cậu đi công tác, mợ nhận lời đưa tôi đi, “nhưng mợ chỉ biết mộ bà ngoại con thôi, còn những nơi má con từng sống qua thì mợ không biết.”
Đường đi lên núi Ngự Bình nhỏ lắm.
Tôi nhìn con đường lên núi, con đường thửơ nhỏ má tôi từng đi lượm củi.
Tôi không dám hỏi xem ngôi nhà thờ nhỏ nào má tôi từng đứng nhìn lén ông cha dạy những đứa trẻ cùng tuổi má tôi học chữ. Để rồi ông cha thương tình, cho má tôi vào học 3 tháng. Đó là 3 tháng duy nhất má tôi được ngồi trong cái gọi là “ghế nhà trường.”
Tôi chỉ biết lặng lẽ ngồi nhìn cảnh vật hai bên đường, để cô Dung và mợ tôi nói chuyện với nhau.

Lần đầu tiên trong đời, tôi đứng trước mộ người đã sanh ra má tôi.
Trong những câu chuyện chắp vá mà tôi nghe được, tôi biết bà ngoại mất sớm vì bệnh, cái bệnh của người nghèo không đủ tiền mua thuốc uống, và các con phải tứ tán mỗi đứa mỗi nơi, trong lúc ông ngoại đi Việt Minh biền biệt rồi trở về cùng bà ngoại khác.
Và phải 15 năm sau ngày bà ngoại mất, má tôi mới có tiền để xây mộ cho bà như lời nguyện “khi có tiền, con sẽ về xây mộ cho mạ.”
Tôi nhìn ngôi mộ.
Rất lạ.

Tôi bước đến nhìn tấm bia trên mộ.
Mợ đốt nhang cho tôi thắp trên mộ bà.
Những đứa trẻ sống nhờ người viếng mộ giúp tôi nhổ sạch ít cọng cỏ quanh mộ để được vòi tiền công. Một người sống cùng những ngôi mộ hỏi tôi có muốn quét xi măng lại cho ngôi mộ khang trang hơn không.
Mợ tôi cản, “Đó là chuyện của cậu. Con biết gì mà làm. Con cũng đâu biết họ là ai, mà con cũng đâu biết giá.”
Tôi hỏi nhỏ người đề nghị, “Làm như thế nào? Giá bao nhiêu? Bao giờ thì xong?”

Họ nói giá và chỉ yêu cầu đưa trước 1 ít, ngày mai họ làm xong, tôi lên xem rồi trả hết tiền.

Tôi không biết trước là tôi có quay trở lại hay không. Tôi đưa đủ số tiền họ ra giá, “Anh cứ làm đi.”
Tôi lạy mộ bà trước khi ra về. Đó là ngày cuối cùng của năm 2010.
Ông xã kể cho má tôi nghe chuyện tôi ra thăm mộ bà ngoại. Má khóc. Tôi chưa từng nói cho má biết tôi sẽ ra thăm mộ bà.
Ngày đầu năm 2011, trước khi sắp xếp hành trang trở về Sài Gòn, cô Dung lại cùng tôi đón xe lên thắp nhang cho mộ bà lần nữa.
Tôi không biết bao lâu nữa tôi sẽ trở về quê ngoại lần nữa.
Tôi chỉ biết, tôi đã về quê ngoại, với một cảm giác bình an.