Chuyện những ngôi mộ

Năm vừa rồi có lẽ là năm tôi có duyên gặp gỡ mồ mả.
Nghe ghê nhỉ. Nhưng đó là sự thật.

Kể từ sau khi kết thúc năm học lớp 3 ở An Dưỡng Địa – nơi ngôi trường làng có vỏn vẹn 4 lớp được bao quanh bởi cả một khu nghĩa địa với hằng hà sa số dân vô gia cư sống trên đó – cho đến cuối tháng 3 năm ngoái, tôi hình như chưa bao giờ bước chân đến một nghĩa địa nào. Chỉ có đi đám ma, đi đưa đám ma 1 đoạn, và đôi lần đến nhà thiêu. Vậy thôi.
Tính ra vậy cũng dễ chừng cũng gần gần 30 năm rồi (trừ đi 2 năm thì vừa).

Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 2010, tôi theo đoàn “thuyền nhân” trở về một số trại tị nạn ở Indonesia.
Tôi chuẩn bị cho sự trở về những “trại tị nạn,” tức là nơi những người vượt biên đã từng dừng chân trước khi tiếp tục được nhận đến các nước tự do, chứ không hề chuẩn bị cho sự gặp gỡ những nấm mồ.
Vậy mà tôi đã gặp.
Nhiều chưa từng thấy.
Và hoang tàn
Ghẻ lạnh
Thê lương chưa từng thấy.
Tôi nhớ năm tôi học gần những ngôi mộ. Khi đi học, khi ra về, tôi đều phải len lỏi đi quanh đó, đi ngang đó.
Nhưng chưa bao giờ tôi dẫm đạp lên đó.
Bởi tất cả đều là Những Ngôi Mộ.
Chúng có hình thù của ngôi mộ để một đứa bé lên 8, lên 9 như tôi đủ nhận ra một cách dễ dàng để mà né, để mà tránh.
Còn những cái mà tôi đã nhìn thấy ở Letung, Air Raya,… là những nấm mộ – nếu phải gọi cho có một cái tên để gọi.
Nhiều lắm.
Nhiều lắm những nấm mộ chỉ còn lại dấu tích là một mô đất hơi nhú lên, nhô lên.
Tôi đưa máy chụp những nấm mộ này khi đang đứng ngay trên một nấm mộ khác mà không hề hay biết.
Tôi chụp những bia mộ đã bị sạt lở.
Tôi chụp những mảnh đá nào còn có thể đọc ra tên người.
Để làm gì.
Tôi không biết
Tôi chỉ biết chúng có ích khi những hình ảnh đó xuất hiện trên báo, trên blog và có người nhận ra đó là người thân của họ.
Đó là những ngôi mộ của người đã vượt biên, và nằm lại vĩnh viễn nơi không là quê hương, cũng chẳng là tổ quốc.

Ngày đầu năm 2011 này, tôi lại có dịp gặp gỡ những ngôi mộ. Vô số những ngôi  mộ.
Cũng là những ngôi mộ có liên quan đến hai chữ “vượt biên.” nhưng không chôn người vượt biên mà chôn thân nhân của họ.
Người đi vượt biên may mắn đến bờ tự do, cật lực làm ăn và gửi tiền về xây dựng nơi yên nghỉ cho thân nhân mình, như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo, và hơn hết, ngôi mộ càng to lớn đồ sộ nghĩa cử càng đền ơn càng dày. Đó là lý lẽ ngàn đời của nơi coi trọng việc mồ êm mả đẹp cho người chết hơn thân phận người sống.

Nhớ lúc tôi vừa về đến Sài Gòn, gặp một anh cộng tác viên của tờ Người Việt, nghe nói tôi sẽ đi Huế, anh nói ngay, “Cố gắng đến thành phố Ma để mà chiêm nghiệm về cuộc sống.”
Ra đến Huế, gặp bạn bè đi chung nào tôi cũng nói hãy thử đến đó, nhưng cuối cùng “xe lớn không thể vào làng đó được” nên trước giờ ra sân bay trở về SG chỉ có tôi và cô Hoàng Dung đặt chân đến Thành Phố Lăng Mộ, chứ không phải thành phố ma.
Dù đã nghe nói trước, dù đã được anh chàng lái xe thuyết minh trước, tôi vẫn không thể nào không sững sờ trước những gì hiện ra ở nơi các mộ phần được xây như những lăng tẩm nằm ẩn sau ngôi làng có tên An Bằng.
Xe dừng lại ở một khoảng trống, tôi cầm máy ảnh và bắt đầu đi vào nghĩa địa.
Tôi không phải ngó xuống chân. Mắt tôi phải ngước nhìn lên cao cho vói tới đúng tầm cao của những chiếc cột được chạm trổ đủ hình thù long lân rồng phụng cho đúng kiến trúc cung đình.
Tôi loay hoay để làm sao chụp cho trọn vẹn một ngôi mộ. Nó lớn quá.
Không phải là một cái, hai cái, ba cái, mà nó phải là hằng trăm, hàng ngàn cái.
Cả một thành phố lăng mộ sừng sững mọc lên trước mắt tôi.
Cũng một không khi im ắng đến ghê người, bởi người sống đâu có ở đây.
Cô Dung không dám bước vào.
Một mình tôi cứ len lỏi và cảm thấy mình lọt thỏm trong bao la mộ là mộ.
Người ta nói rằng cả làng An Bằng này không nhà nào không có người đi vượt biên, bởi làng họ rất gần biển Thuận An. Và dường như họ lại tiếp tục công việc của gia đình, dòng họ  khi đặt chân đến vùng đất mới: làm nghề đánh cá.
Sĩ diện người sống gần đất kinh thành lắm vua nhiều chúa không cho phép mình thua sút nhà bên, nhất là nhà thờ họ và mồ mả.
Thế là một ngôi mộ lớn mọc lên. Ngôi mộ khác lớn hơn phải được xây lên. Và cái nhỏ hơn không thể xấu hổ đứng kề mà con cháu cũng bằng mọi cách chắt mót gửi về cho “mộ ông tao cao hơn mộ ông mày.”
Cứ thế.
Tôi đi loanh quanh trong những cái gọi là mộ đồ sộ đó, trong khi đầu lại thấp thoáng ý nghĩ không biết có người nào trong làng này nằm lại nơi những hòn đảo tôi đã qua?
Người đạp xích lô ngay thành phố Huế chỉ ra giá 20 ngàn ($1) để chở tôi đi tham quan khắp thành phố và sẵn sàng ngồi chờ tôi dừng lại ăn uống ở bất kỳ hàng quán nào, trong 2, 3 tiếng.
Đến bao lâu thì họ mới dành đủ $100,000 để xây những ngôi mộ “bình bình” như những ngôi mộ ở làng An Bằng?