Tết xa quê

Từ những ngày còn ở Việt Nam, chưa bao giờ tôi được ăn một cái “Tết nhà quê.”

Ba má tôi là những người tha hương từ nhỏ, phận nghèo lênh đênh từ miền này qua quê khác. Khi đã định cư tại Sài Gòn, ba má tôi lại triền miên trong bươn chải, ráng kiếm sao cho đủ tiền nuôi bầy con bảy đứa, vừa nheo nhóc vừa đang tuổi ăn tuổi lớn, vừa lo cho chúng đến trường, để không dở dang chuyện học hành. Thì, chuyện “về quê ăn Tết” là một khái niệm khá mờ nhạt và mông lung, đến gần như chưa bao giờ hiện hữu trong tuổi thơ tôi.

Tôi chưa bao giờ có được cảm giác chộn rộn, háo hức vì sẽ “xuống Chợ Đệm,” “về Tiền Giang” hay “Vĩnh Long” ăn Tết như những đứa bạn tôi. Tôi nghe chúng kể chuyện được ba má hay cô, cậu, dì chở chúng về quê bằng xe Honda, rồi khi trở lên, mang theo bánh ít, bánh tét, nem bưởi,… mà nội, ngoại chúng gửi lên, bằng sự thèm thuồng và khát khao.

Tuổi thơ tôi không có quê. Tôi không biết con đường làng thực sự nó ra làm sao. Tôi không biết nhổ mạ cấy lúa là như thế nào. Cảnh mò cua, bắt ốc, giăng câu, kéo cá, tắm sông… với tôi chỉ là hình ảnh có qua trang sách, và tivi. Cây đa, giếng nước, sân đình lại là một cái gì xa xôi, vời vợi.

Tuổi thơ tôi gắn bó với Sài Gòn, nhưng là một nơi rất xa chợ Bến Thành hay Sở Thú, mà lại rất gần nơi người ta phải chen lấn, xếp hàng mua vé xe đò về miền Tây mỗi khi Tết đến.

Tết với tôi chỉ có “Tết thành thị” với trời trong, xanh, và nắng đến gay gắt.

Tết rục rịch đến bắt đầu từ những khúc vải thun hay “ka-tê” má tôi mang về từ chợ cho mỗi đứa con may một bộ đồ mới.

Tết hiện dần ra trước mắt khi ba và các anh trai tôi bắt đầu quét mạng nhện, năm “sang hơn” thì tô lại tường vôi.

Tết càng đến gần khi thấy má từ từ tha về nhà ít “thèo lèo cứt chuột,” ít mứt bí mứt dừa. Hay có khi má mang về đống me, rồi chị em tôi xúm lại phụ lột vỏ, chẻ hột, để má làm mứt, cho có cái chua chua ngọt ngọt trong những ngày đầu năm.

Lớn hơn một chút, tôi nhận ra đến Tết khi thấy ba phụ má ngồi dưới bếp xắt lỗ tai heo, đầu heo, để má gói giò thủ. Hay những lúc má “tả xung hữu đột” dưới bếp chuẩn bị đậu, nếp, nhân thịt, để ở nhà trên, ba chỉ huy đám con lóc chóc ngồi vào gói bánh chưng. Mà chuyện gói bánh chưng trong một gia đình ngườiNamnghe ra vừa buồn cười vừa xót xa. Tuổi thơ ba má có bao giờ được chứng kiến người thân trong gia đình gói bánh tét – Tết người nghèo không có bánh. Nay khi tuổi vào trung niên, mới dư dả ra, có người chỉ gói bánh chưng thì cứ cái bánh chưng mà gói cho con cái còn có được kỷ niệm về hình ảnh nồi bánh chưng nấu trước cửa nhà, đám con bắc ghế ra sân ngồi ngó cái nồi, ngó ngọn lửa đỏ tí tách trong đêm.

Tết trong tôi, còn là chiều 29, xách giỏ theo má ra chợ, nơi người bán bày hàng ê hề, ai cũng muốn lấn thêm một chút mặt bằng để đặt thêm mẹt rau, chất thêm bội gà, kê thêm thúng quýt, dựng thêm nhánh mai… hàng bán tràn từ lề đường vào đến nhà lồng chợ.

Tết trong tôi còn là hình ảnh mấy chị em lo thay đồ mới khi đồng hồ bắt đầu điểm 10 giờ tối Ba Mươi, rồi đứng lẩm nhẩm xem lát nữa chúc Tết ba má, anh chị như thế nào. Rồi lại túa ra sân xem đốt pháo. Nhăn mặt, bịt tai, nheo mắt. Vậy mà mùi thuốc pháo vương hoài trong ký ức…

Giờ sang xứ người.

Lần thứ 7 rồi không được ăn “Tết thành thị.”

Thơ thẩn ra chợ hoa Phước Lộc Thọ. Tìm mua ít trái cây, ít thèo lèo về cúng ông Táo, cúng ông bà.

Mân mê những mảnh giấy đỏ dùng treo lên cành mai cành đào.

Tần ngần cầm những bao lì xì đủ màu vàng đỏ.

Nhìn người du Xuân dừng lại ngắm vài cây mai Việt Nam ít ỏi chen trong muôn sắc của lan, của cúc…

Bỗng da diết nhớ Tết Sài Gòn – giờ với tôi – đã là “Tết nhà quê.” Xa lắm.